Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Những thói quen tưởng vô hại nhưng lại nguy hiểm ngang với hút thuốc

1. Không dùng kem chống nắng

Mặc dù ung thư da thường có thể chữa trị nếu được phát hiện sớm nhưng nhiều người vẫn chết vì u hắc tố mỗi năm. Cách tốt nhất để phòng ngừa ung thưda là bôi kem chống nắng mọi lúc. Bạn cần bôi kem lên bất cứ vùng da nào tiếp xúc với ánh mặt trời buổi sáng và bôi lại trong ngày. Đó là thói quen sẽ mang lại lợi ích cho bạn nếu bạn bắt đầu thực hiện từ khi còn trẻ.

2. Không tập luyện

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng không tập luyện là nguyên nhân của 1/10 số ca tử vong sớm, tương đương với con số tử vong do hút thuốc.

3. Sử dụng thuốc lắc

Thuốc lắc là loại ma túy đường phố khiến người sử dụng bị kích thích thần kinh trung ương, tạo ảo giác trong nhiều giờ liền. Ảo giác đó làm cho người uống thuốc lắc có trạng thái sung mãn, tự tin, nhiệt độ cơ thể tăng gây cảm giác nóng bỏng, thích thực hiện những hành vi có cảm xúc mạnh, đặc biệt khi đi kèm với âm thanh có cường độ lớn. Thành phần của thuốc này là chất GHB có thể gây rất nhiều nguy cơ cho sức khỏe cũng như kiểm soát hành vi. Hãy loại bỏ bất cứ loại ma túy nào vì sức khỏe và cuộc sống của bạn.

4. Không kiểm soát cân nặng

Tăng 1-2 kg không đáng lo ngại, nhưng nếu bạn để cân nặng tăng ngoài tầm kiểm soát, nguy cơ tử vong sẽ tăng lên đáng kể. Theo các chuyên gia, những người béo phì trước tuổi 15 tăng gấp 2 lần nguy cơ tử vong so với những người không bị béo phì. Nguy cơ này tiếp tục tăng nếu trọng lượng của bạn quá cao. Luyện tập và chế độ ăn lành mạnh có thể có lợi cho bạn.

5. Xem tivi quá nhiều

Bạn được khuyến cáo không để cho trẻ xem tivi nhiều hơn 2 giờ mỗi ngày. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, ngay cả bạn cũng nên xem hạn chế vì cuộc sống của chính mình. Nghiên cứu cho biết xem tivi hơn 4 giờ mỗi ngày làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ. Thay vào đó hãy đọc sách hoặc đan len.

6. Sống quá xa nơi làm việc

Sống xa nơi làm việc là không tốt. Những người dành quá nhiều thời gian đi lại sẽ có ít thời gian thực hiện những thói quen lành mạnh như ăn uống đúng cách, tập luyện và ngủ đủ. Bạn có thể bị bắt buộc phải đi làm xa nhưng hãy cố khắc phục bằng những thói quen tốt để có thể sống lâu hơn.

7. Ngủ quá nhiều cũng có hại như thiếu ngủ

Những người ít ngủ dễ bị tăng cân và stress, cả hai tình trạng này đều rút ngắn tuổi thọ của bạn. Nghiên cứu cho biết ngủ quá nhiều làm tăng đáng kể nguy cơ tử vong do đau tim. Lý tưởng là nên ngủ từ 7-8 giờ mỗi đêm. Thường xuyên ngủ nhiều hơn 9 giờ cũng có thể dẫn tới các biến chứng cho sức khỏe.

BS Tuyết Mai

(Univadis)

4 cách đơn giản tránh bệnh do nắng hè

Tránh nắng:

Hạn chế trẻ ra đường thời gian nóng nhất trong ngày (10h - 15h).

Đội nón rộng vành, quần áo mỏng, màu sáng khi ra ngoài trời. Đi tắm biển hoặc ra nắng lâu hơn 15 phút nên bôi kem chống nắng 5 phút trước và bôi lại mỗi 2 giờ.

Tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột.

Hạ nhiệt:

Nhắc trẻ uống nước thường xuyên, ngay cả khi không khát: Nước chín, nước tinh khiết, nước khoáng, trà loãng. Tránh uống nhiều nước ngọt, nước có gaz. Chọn nước đá tinh khiết.

Xây dựng thực đơn các món ăn có nhiều nước: canh rau, các món ăn giải nhiệt như sữa chua, chè đậu xanh

Cho trẻ ăn đầy đủ các chất: rau quả, vitamin và chất khoáng.

Chăm sóc da đúng cách: Giữ cho da sạch, mát và khô:

BS.CKII. NGUYỄN THỊ KIM THOA

Cách phòng đột quỵ do nắng nóng

Những người mắc các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu nên áp dụng sớm những biện pháp phòng ngừa nguy cơ đột quỵ. Nên thay đổi lối sống, kiểm soát huyết áp, đường huyết… Vào mùa nóng, nên cẩn trọng nếu đột nhiên cảm thấy hơi đau đầu, choáng váng, tê nửa người... vì những biểu hiện này rất có thể là triệu chứng báo trước khả năng phát sinh đột quỵ. Ngoài ra cần thực hiện tốt những biện pháp phòng bệnh sau:

Uống nhiều nước: Cung cấp đủ nước cho cơ thể để đào thải chất độc, thanh nhiệt cơ thể hỗ trợ cho các bộ phận khác của cơ thể làm việc tốt hơn. Ngoài ra uống nhiều nước cũng giúp bạn có một làn da tươi tắn, khỏe mạnh, căng tràn sức sống.

​Ở người bị đột quỵ, tim thường đập nhanh hoặc loạn nhịp.

Bảo vệ cơ thể: Trước khi đi ra ngoài trời nắng cần trang bị ô, mũ, áo chống nắng, kính râm, khẩu trang… đầy đủ tránh tia cực tím xâm nhập. Nếu đi biển cần sử dụng kem chống nắng giúp bảo vệ làn da khỏi các tác hại của ánh nắng mặt trời cũng như gió biển. Mặc quần áo màu sáng, chất liệu co giãn thoáng mát. Quần áo màu sáng giúp chống nóng tốt hơn màu tối, nên chọn những trang phục đơn giản, nhẹ nhàng, rộng rãi, thấm mồ hôi để cơ thể được thoải mái, dễ chịu hơn.

Vận động hợp lý: Mùa nắng, cơ thể mất nước nhiều vì vậy nên chọn những bài tập thể dục nhẹ nhàng, vừa sức. Nên tập ở những nơi thoáng mát, giàu không khí như công viên, các trung tâm thể dục thể thao. Lưu ý khi tập xong nên nghỉ ngơi cho ráo mồ hôi tránh đi tắm ngay.

Không nên ra ngoài nắng đặc biệt là khoảng thời gian nóng cao điểm từ 11 giờ trưa đến 4 giờ chiều. Vì thời điểm này nắng mạnh nhất, nhiều tia tử ngoại nhất dễ gây say nắng, sốc nhiệt.

Thạc sĩ Vũ Hồng Anh

 




 

 

Những nhận định sai về vắc

Tại Việt Nam, hơn 30 năm qua, hàng trăm triệu liều vắc-xin đã được tiêm chủng miễn phí cho trẻ em và phụ nữ. Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều quan niệm anti vắc-xin (chống lại vắc xin, từ chối cho con cái hoặc bản thân tiêm vắc-xin) càng lớn dần. Hãy xem những quan niệm về vắc-xin đó sai lệch thế nào qua các nghiên cứu khoa học đã được chứng minh.

Vắc-xin gây tự kỷ

Nỗi lo sợ rộng rãi rằng vắc-xin làm tăng nguy cơ mắc chứng tự kỷ bắt nguồn từ một nghiên cứu năm 1997 do Andrew Wakefield, một bác sĩ phẫu thuật người Anh xuất bản. Bài báo được đăng trên tạp chí y khoa The Lancet, cho thấy vắc-xin phối hợp sởi, quai bị, Rubella (MMR) đang gia tăng chứng tự kỷ ở trẻ em Anh. Bài báo này đã bị hủy bỏ hoàn toàn do các lỗi nghiêm trọng về thủ tục và các vi phạm đạo đức. Andrew Wakefield mất giấy phép y tế và giấy đã được rút lại từ The Lancet. Tuy nhiên, giả thuyết của bác sĩ này đã được thực hiện nghiêm túc, và một số nghiên cứu lớn khác đã được tiến hành. Không ai trong số họ tìm thấy một liên kết giữa bất kỳ loại vắc-xin nào và khả năng phát triển chứng tự kỷ. Ngày nay, nguyên nhân thực sự của chứng tự kỷ vẫn là một bí ẩn, nhưng với sự mất uy tín của lý thuyết liên kết tiêm chủng tự kỷ, một số nghiên cứu hiện đã xác định các triệu chứng tự kỷ ở trẻ em trước khi chúng được chủng ngừa MMR. Và thậm chí nhiều nghiên cứu gần đây cũng cung cấp bằng chứng cho thấy chứng tự kỷ phát triển trong tử cung, trước khi sinh con hoặc được chủng ngừa.

Mọi trẻ em đều khác biệt, tuy nhiên hệ miễn dịch của trẻ sẽ tiếp nhận vắc-xin giống hệt nhau.

Mọi trẻ em đều khác biệt, tuy nhiên hệ miễn dịch của trẻ sẽ tiếp nhận vắc-xin giống hệt nhau.

Hệ miễn dịch của trẻ nên được phát triển tự nhiên

Vắc-xin giới thiệu một dạng virut đã bị suy yếu vào cơ thể của bạn để hệ thống của bạn có thể học cách xác định và bảo vệ cơ thể, chống lại loại virut này trong tương lai. Đối với những người trẻ và già, việc tăng cường hệ miễn dịch bằng cách tiêm phòng đặc biệt quan trọng. Cụ thể, trẻ em phải được ngừa các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm ở độ tuổi trẻ, bởi vì khi đó hệ miễn dịch của chúng dễ bị tổn thương nhất.

Vắc-xin có thể gây bệnh (do vắc-xin là virut đã bị yếu của một căn bệnh tiêm vào cơ thể)

Vắc-xin có thể gây ra các triệu chứng nhẹ giống như các triệu chứng của bệnh mà nó đang bảo vệ chống lại. Một quan niệm sai lầm phổ biến là các triệu chứng này báo hiệu nhiễm trùng. Trên thực tế, với tỷ lệ nhỏ (ít hơn 1 trong một triệu trường hợp), nơi các triệu chứng xuất hiện, những người nhận vắc-xin đang trải qua phản ứng miễn dịch của cơ thể đối với vắc-xin, chứ không phải bản thân bệnh. Chỉ có một trường hợp được ghi lại trong đó một loại vắc-xin đã được chứng minh là gây bệnh. Đó là Thuốc chủng ngừa bệnh bại liệt (OPV) đã không còn được sử dụng. Kể từ đó, vắc-xin đã được sử dụng an toàn trong nhiều thập kỷ và tuân theo các quy định nghiêm ngặt về Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA).

Mọi trẻ em đều khác biệt, vậy sao chúng lại dùng cùng loại vắc-xin và cùng một lịch?

Con bạn có thể khác các trẻ em bình thường theo nhiều cách, nhưng hệ thống miễn dịch của chúng gần như chắc chắn sẽ tiếp nhận vắc-xin giống hệt nhau.

Theo các nghiên cứu đăng trên tạp chí American Academy và Pediatrics: Lịch tiêm phòng được coi là lịch trình lý tưởng cho trẻ em khỏe mạnh, nhưng có thể có ngoại lệ. Ví dụ, con bạn có thể không nhận được một số loại vắc-xin nếu chúng bị dị ứng với một thành phần trong vắc-xin, hoặc nếu chúng có một hệ thống miễn dịch suy yếu do bệnh tật, một tình trạng mạn tính, hoặc điều trị y tế khác. Đôi khi một mũi tiêm cần phải bị trì hoãn trong một thời gian ngắn và đôi khi không đươc tiêm vào cơ thể. Điều quan trọng cần lưu ý là lịch tiêm chủng được tạo ra để các vắc-xin được cho vào “độ tuổi khi hệ miễn dịch của cơ thể hoạt động tốt nhất” và “nhu cầu bảo vệ trẻ sơ sinh và trẻ em ở độ tuổi sớm nhất có thể”.

Linh Giang

((Theo Publichealth & Scienceaf.com))

Cách sơ cứu và phòng tránh say nắng nhanh chóng đúng chuẩn

Say nắng (hay còn gọi là sốc nhiệt) là hình thái nghiêm trọng nhất của tổn thương do nhiệt và là một cấp cứu y khoa. Sốc nhiệt có thể gây tử vong hoặc gây tổn hại cho não và các cơ quan nội tạng khác trong cơ thể. Sốc nhiệt chủ yếu ảnh hưởng tới những người trên 50 tuổi nhưng nó cũng có thể tác động tới người trẻ khỏe.

Triệu chứng của say nắng

Triệu chứng đặc trưng của sốc nhiệt là nhiệt độ trung tâm của cơ thể cao hơn 40,5 độ C. Thường ngất xỉu có thể là dấu hiệu đầu tiên. Các triệu chứng khác có thể gồm: đau nhói đầu; chóng mặt và choáng váng; không ra mồ hôi mặc dù thời tiết nóng; da đỏ, nóng và khô; yếu cơ hoặc chuột rút; buồn nôn và nôn; nhịp tim/mạch nhanh, tim/mạch có thể đập mạnh hoặc yếu; thở nhanh và thở nông; Thay đổi hành vi như lú lẫn, mất phương hướng hoặc có trạng thái sửng sốt; co giật; hôn mê.

Cách sơ cứu và phòng tránh say nắngKhi nắng nóng cần uống nhiều nước,  mặc quần áo rộng, nhẹ và sáng màu, đội mũ kết hợp với sử dụng kem chống nắng để phòng tránh say nắng.      Ảnh: TM

Sơ cứu ban đầu với người say nắng

Nếu bạn nghi ngờ ai đó bị say nắng, hãy gọi số điện thoại cấp cứu 115 ngay lập tức hoặc đưa bệnh nhân tới bệnh viện. Trong khi đợi y tế đến, đưa bệnh nhân tới nơi có điều hòa hoặc ít nhất là chỗ râm mát và cởi bỏ các quần áo không cần thiết.

Nếu có thể, nên đo nhiệt độ cơ thể của bệnh nhân rồi sơ cứu để hạ nhiệt độ cơ thể xuống còn 38,3-38,8 độ C. Trường hợp không có nhiệt kế, tiến hành sơ cứu ngay bằng các phương pháp làm mát sau:

Quạt và làm ướt da bệnh nhân bằng khăn ướt hoặc vòi nước.

Áp túi nước đá vào nách, bẹn, cổ và lưng bệnh nhân. Do các khu vực này có nhiều mạch máu gần với da nên việc làm lạnh chúng có thể làm giảm được nhiệt độ cơ thể.

Nhúng bệnh nhân vào vòi hoa sen hoặc bồn tắm có nước mát hay bồn tắm nước đá.

Nếu hỗ trợ y tế tới muộn, bạn có thể gọi điện tới các phòng cấp cứu trong bệnh viện để được hướng dẫn thêm.

Chú ý: Một người đã hồi phục sau sốc nhiệt có thể nhạy cảm hơn với nhiệt độ cao trong các tuần sau đó. Vì vậy, tốt nhất, cần tránh thời tiết nóng và tập luyện nặng cho tới khi bác sĩ khẳng định bạn đã an toàn để quay lại các hoạt động bình thường.

Các yếu tố nguy cơ gây say nắng

Sốc nhiệt rất dễ ảnh hưởng tới người cao tuổi sống tại nơi không có điều hòa hoặc nhà không được thông khí tốt. Các nhóm nguy cơ cao khác bao gồm những người không uống đủ nước, có bệnh mạn tính hoặc uống quá nhiều bia rượu.

Sốc nhiệt có liên quan chặt chẽ với chỉ số nhiệt. Chỉ số nhiệt là một đại lượng đo lường bạn cảm thấy nóng như thế nào khi chịu ảnh hưởng từ độ ẩm tương đối kết hợp với nhiệt độ không khí. Độ ẩm không khí trên 60% làm cản trở việc bài tiết mồ hôi, do đó làm cản trở khả năng tự làm mát của cơ thể.

Nếu bạn sinh sống ở khu vực đô thị, bạn có thể đặc biệt dễ bị sốc nhiệt trong đợt nóng kéo dài, đặc biệt nếu chất lượng không khí kém và không có gió. Hiện tượng “hiệu ứng đảo nhiệt” (nhựa đường và nhà kho bằng bê tông bị đốt nóng vào ban ngày và chỉ tỏa dần nhiệt vào ban đêm) làm cho nhiệt độ ban đêm cao hơn.

Các yếu tố nguy cơ khác kết hợp với các tình trạng rối loạn liên quan tới nhiệt bao gồm:

Tuổi: Trẻ sơ sinh, trẻ em dưới 4 tuổi và người lớn trên 65 tuổi dễ bị tổn thương do nhiệt bởi họ thích nghi với nhiệt chậm hơn so với những người khác.

Tình trạng sức khỏe: Các bệnh lý tim, phổi hoặc thận, béo phì, thiếu cân, cao huyết áp, tiểu đường, bệnh tâm thần, bệnh hồng cầu hình liềm, nghiện rượu, bỏng nắng và bất cứ tình trạng nào gây sốt... đều rất dễ bị tổn thương do nhiệt.

Thuốc: Sử dụng các thuốc kháng histamin, thuốc giảm cân, thuốc lợi tiểu, thuốc an thần, các thuốc kích thích, thuốc chống động kinh, thuốc tim mạch và huyết áp và các thuốc điều trị bệnh tâm thần... làm tăng nguy cơ tổn thương do nhiệt. Ma túy cũng liên quan tới việc tăng nguy cơ bị sốc nhiệt.

Tuy nhiên, những người có bệnh đái tháo đường - có nguy cơ cao phải vào cấp cứu, nhập viện và tử vong do các rối loạn liên quan tới nhiệt lại thường đánh giá thấp nguy cơ của họ trong đợt nóng.

Cách phòng tránh say nắng

Khi nhiệt độ ngoài trời cao, bạn tốt nhất là ở trong môi trường điều hòa. Nếu phải đi ra ngoài, bạn có thể dự phòng sốc nhiệt theo các bước sau:

Mặc quần áo rộng, nhẹ và sáng màu, đội một chiếc mũ rộng vành kết hợp với sử dụng kem chống nắng có chỉ số chống nắng trên 30.

Uống nhiều nước để tránh mất nước, ít nhất là khoảng 8 cốc gồm nước lọc, nước trái cây hoặc nước rau... Vì các tình trạng rối loạn liên quan tới nhiệt cũng có thể là hậu quả của mất muối, do vậy, khuyến khích bổ sung đồ uống thể thao giàu chất điện giải trong các đợt nóng.

Thực hiện các biện pháp dự phòng bổ sung khi tập luyện hoặc đi bộ ngoài trời, uống khoảng 710ml nước trước 2 giờ tập luyện và cân nhắc bổ sung 1 cốc (khoảng 240ml) nước hoặc đồ uống thể thao ngay trước khi tập. Trong khi tập, cứ mỗi 20 phút bạn nên uống 1 cốc nước, ngay cả khi không cảm thấy khát.

Thu xếp lại hoặc hủy bỏ các hoạt động ngoài trời. Nếu có thể, thay đổi thời gian ngoài trời của bạn sang một khoảng thời gian mát mẻ hơn trong ngày hoặc vào buổi sáng sớm hay sau khi mặt trời lặn.

Các biện pháp dự phòng sốc nhiệt khác bao gồm:

Theo dõi màu sắc nước tiểu: Nước tiểu sẫm màu hơn là một dấu hiệu mất nước. Hãy đảm bảo uống đủ nước để duy trì nước tiểu có màu trong.

Cách sơ cứu và phòng tránh say nắngCách sơ cứu ban đầu cho người say nắng.

- Đánh giá trọng lượng trước và sau mỗi hoạt động thể lực. Theo dõi trọng lượng nước bị mất có thể giúp bạn xác định cần uống bổ sung bao nhiêu nước để bù lại.

- Tránh chất lỏng có cafein hoặc cồn bởi vì cả hai chất này có thể khiến bạn mất nhiều dịch hơn và làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn liên quan tới nhiệt. Ngoài ra, không uống thuốc muối khi không có chỉ định của bác sĩ. Cách dễ nhất và an toàn nhất để bổ sung muối và các điện giải khác trong đợt nóng là dùng đồ uống thể thao và các loại nước trái cây.

- Đi khám bác sĩ trước khi tăng chế độ uống nước hàng ngày nếu bạn có bệnh gan, thận, tim hoặc động kinh (là những bệnh lý cần hạn chế uống nước) hoặc có vấn đề về tích nước.

- Nếu nhà bạn không có quạt hoặc điều hòa, vào khoảng thời gian nóng nhất trong ngày, nên tới nơi có điều hòa không khí (như đi siêu thị, thậm chí nhà hàng xóm...) hoặc những nơi râm mát... Tại nhà, cần đóng cửa rèm, che chắn cửa hoặc hạ mành... khi nắng nóng và mở cửa sổ vào ban đêm ở hai cạnh của ngôi nhà để tạo sự thông gió.

ThS.BS. Lương Quốc Chính

Trẻ nôn trớ, xử trí thế nào?

Nôn trớ là triệu chứng hay gặp ở trẻ nhỏ. Nôn trớ là hiện tượng thức ăn trong dạ dày bị đẩy lên thực quản rồi trào ra miệng. Nôn trớ có thể lành tính, tự khỏi khi trẻ lớn hơn. Có khi nôn trớ là biểu hiện của những bệnh lý tiêu hóa như trào ngược dạ dày thực quản, có thể là triệu chứng của bệnh lý đường hô hấp hay là bệnh lý toàn thân…

Thế nào là nôn trớ bình thường?

Nôn trớ là hiện tượng phổ biến trong những tuần đầu sau sinh, khi bé vừa ăn xong hay bé vặn người. Bé trớ ra sữa vón cục và điều này có thể làm bé sợ, khóc nhiều hơn. Có nhiều nguyên nhân khiến bé trớ, hay gặp ở trẻ nhỏ do ép trẻ ăn quá nhiều, bú quá no, nằm liền sau khi bú hoặc không dung nạp thức ăn hoặc bắt đầu ăn bổ sung với thức ăn mới lạ, hoặc ăn nhiều quá một loại thức ăn nào đó. Dấu hiệu: nôn trớ thường xuất hiện sớm, số lượng chất nôn ít, chủ yếu là thức ăn. Trẻ vẫn chơi bình thường, không ảnh hưởng đến toàn trạng cơ thể. Do vậy, chỉ cần điều chỉnh cách cho ăn.

Hiện tượng nôn trớ ở tháng tuổi mới sinh này là bình thường hay còn gọi là nôn trớ sinh lý vì dạ dày của bé còn nằm ngang, cơ thắt tâm vị yếu nên bé rất hay nôn trớ, để giảm bớt tình trạng này cần chia nhỏ nhiều bữa ăn trong ngày, mỗi bữa chỉ ăn 30-40ml, có thể 1h lại cho ăn 1 lần.

Một lưu ý là cha mẹ không nên quá căng thẳng về hiện tượng này ở trẻ. Mỗi đứa trẻ đều sẽ nôn trớ ít nhiều trong giai đoạn sau khi chào đời và thường không ảnh hưởng gì tới sức khỏe cũng như sự phát triển của trẻ. Bé vẫn khỏe mạnh và tiếp tục lên cân.Khi bé nôn nên để bé nằm nghiêng hoặc đỡ bé ngồi dậy, đề phòng khi bé nôn, chất nôn sẽ tràn vào khí quản, gây sặc rất nguy hiểm

Khi bé nôn nên để bé nằm nghiêng hoặc đỡ bé ngồi dậy, đề phòng khi bé nôn, chất nôn sẽ tràn vào khí quản, gây sặc rất nguy hiểm

Nôn trớ bệnh lý

Trong những tháng đầu tiên sau sinh, hiện tượng nôn trớ có thể là biểu hiện của một bệnh lý tại đường tiêu hóa như: trào ngược dạ dày thực quản, nhiễm khuẩn đường ruột, ngộ độc thức ăn, bệnh lý ngoại khoa như: lồng ruột, tắc ruột, hẹp môn vị… Bệnh lý toàn thân như: viêm đường hô hấp, viêm màng não… Bé càng lớn mà tình trạng nôn vẫn kéo dài thì đừng do dự, hãy đưa bé tới bác sĩ. Một số dấu hiệu cảnh báo cần đưa bé đi khám bệnh: Bé nôn trớ kèm theo: đau bụng quằn quại, bụng trướng, lơ mơ hay ở trạng thái kích thích, co giật, liên tục nôn trớ hay tiếp tục nôn trớ trên 24 tiếng, xuất hiện máu hay mật (màu xanh) khi nôn trớ...

Trường hợp trẻ nôn trớ kéo dài hoặc nôn do bệnh lý mà trẻ có biểu hiện các triệu chứng như: sốt, đau bụng, lơ mơ, co giật, hay nôn ói liên tục,... có thể do các bệnh nhiễm khuẩn tiêu chảy, viêm mũi họng, viêm phổi, viêm màng não,... gây ra. Khi trẻ nôn đột ngột và kèm theo các triệu chứng khác liên quan của từng bệnh thì cần đưa trẻ đi khám để xử trí kịp thời.

Các trạng thái nôn trớ ở bé cần nghĩ ngay là bệnh lý

Cũng có thể có xuất hiện tia đỏ trong dịch nôn nếu bé nuốt máu từ vết thương nào đó ở miệng hoặc bị chảy máu cam trong vòng 6 tiếng trước đó. Chỉ bất thường khi bé tiếp tục nôn trớ có lẫn máu trong những lần sau với số lượng tăng dần. Riêng với tình trạng nôn có màu xanh (mật xanh) thì cần đưa bé đến bệnh viện ngay. Khi ấy cần giữ lại chút dịch nôn trớ có lẫn máu hay mật xanh để đưa bác sĩ xem.

Nôn trớ không ngừng trong tháng đầu tiên sau sinh, cứ ăn xong là nôn trớ. Đây có thể là do chứng hẹp môn vị, một nguyên nhân hiếm gặp gây nôn trớ mà thường bắt đầu một vài tuần sau khi bé chào đời cho tới tận khi bé 4 tháng tuổi. Môn vị là một cơ vòng nối liền dạ dày với đoạn đầu của ruột non. Nếu cơ vòng này bị dày lên sẽ ngăn cản sự di chuyển các chất trong bộ máy tiêu hóa từ dạ dày xuống ruột. Sữa hoặc các thực phẩm khác bị ứ tắc ở đây sẽ dội lại phía thực quản và gây ra nôn ói.

Xử trí nôn trớ như thế nào?

Lưu ý: tư thế khi bé nôn nên để bé nằm nghiêng hoặc đỡ bé ngồi dậy, đề phòng khi bé nôn, chất nôn sẽ tràn vào khí quản, gây sặc rất nguy hiểm. Khi đã lưu ý tư thế thì nên chờ cho bé bớt nôn trớ, hãy cho uống một lượng nhỏ nước đun sôi để nguội hoặc dung dịch oresol, bé bị mất nước nhiều nên sẽ khát. Lau sạch miệng cho trẻ, thay áo và quàng khăn vào cổ trẻ đề phòng bé nôn trớ tiếp.

Khi bé nôn trớ, cơ thể bé sẽ mất một số lượng chất lỏng nhất định. Vì thế, điều quan trọng là phải bổ sung lại lượng chất lỏng đã mất này để cơ thể bé không bị mất nước, bằng dung dịch oresol, nước đun sôi để nguội hay nước trái cây. Thực tế là rất nhiều bé khi uống oresol hay nước lọc vào càng ói nhiều hơn nữa, có bé cũng không chịu uống nước hoa quả. Khi đó có thể cho bé uống nước đường nhạt, vừa giúp bé bù nước lại giúp con giảm mệt mỏi và nhanh lại sức, các bé sẽ dễ uống hơn và giảm nôn trớ rất nhanh. Nên cho uống bằng muỗng nhỏ hoặc từng ngụm một, với lượng nước vừa phải. Nếu bé tiếp tục trớ thì cần cho uống luân phiên 50ml nước oresol/50ml nước đường sau mỗi nửa giờ. Hoặc có thể chỉ cho bé uống nước đường nếu thấy bé chịu uống hơn. Sau khi cho bé uống loại nước này mà bé không nôn trớ nữa thì cho bé bú mẹ hoặc bú bình, tăng dần số lượng từ 80 - 100ml sau mỗi 3 - 4 giờ. Không cho bé bú quá nhiều cho 1 lần trong thời gian này.

Nếu bé đã ngừng nôn trớ sau 6 giờ thì có thể cho bé ăn uống bình thường nhưng vẫn nên cho ăn ít hơn so với bình thường, chia bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ hơn, vẫn cho bé uống nhiều nước. Cho bé ăn các loại thực phẩm dễ tiêu hóa, chọn loại bình thường bé thích ăn và dễ ăn với bé.

Lưu ý: Khi trẻ nôn trớ, mẹ nên xem con có bị sốt hay đi phân lỏng, tiêu chảy, ho, hay sổ mũi, phát ban,... kèm theo không. Nếu có là bé nôn trớ do một bệnh lý nào đó, khiến cơ thể mệt mỏi và gây ra nôn trớ.

Nếu sau khi nôn, trẻ vẫn chơi bình thường thì đó là do cách ăn uống chưa hợp lý ở trẻ, không do bệnh lý, không ảnh hưởng đến tình trạng cơ thể. Lúc này mẹ cần phải điều chỉnh cách cho ăn. Nên nhớ khi bé nôn nhiều tức là bộ phận tiêu hóa đang có vấn đề nên cần nghỉ ngơi, chỉ nên cho bé uống nước để không bị mất nước, đừng ép ăn, không giúp được bé mà còn làm tăng triệu chứng nôn trớ và bé càng quấy khóc nhiều hơn.

Không được tự ý mua cho con dùng loại thuốc chống nôn trớ nào khi chưa cho con đi khám và được bác sĩ kê đơn. Nhất là với các bé dưới 6 tháng tuổi sẽ rất nguy hiểm.

BS. LÊ ANH

Chủng ngừa cho trẻ càng sớm, phản ứng càng êm

Nhiều bậc phụ huynh e ngại trẻ nhỏ quá, chích ngừa không tốt cho hệ miễn dịch, dễ sốc… Tuy nhiên trong buổi nói chuyện chuyên đề “Chủng ngừa ở trẻ em những điều cần biết” ngày 23/6/2018, BS.CKI. Nguyễn Đông Bảo Châu, Phòng Chỉ đạo tuyến (BV. Nhi Đồng 1), cho biết, đầu tiên, vắc xin rất an toàn để sử dụng vì phải trải qua những giai đoạn giám sát, kiểm tra nghiêm ngặt từ khi sản xuất đến khi sử dụng. Thứ hai, trẻ chích ngừa càng sớm càng êm, chích ngừa càng muộn, trẻ càng dễ sinh ra những phản ứng phụ hơn là nếu được chích ngừa sớm.

Giải thích thêm về điều đó, BS. Bảo Châu cho biết: “Khi các trẻ sơ sinh vừa sinh ra, hệ miễn dịch chưa đầy đủ, chưa đủ mạnh; đồng thời có thêm miễn dịch từ mẹ nên khi vắcxin vào cơ thể, hầu hết đáp ứng miễn dịch của trẻ diễn ra từ từ, miễn dịch từ mẹ giúp trẻ trung hòa dược lực của vắcxin”.

Con trẻ bị phơi nhiễm với hàng ngàn mầm bệnh hàng ngày từ môi trường sống. Điều này xảy ra thông qua thực phẩm trẻ ăn, không khí mà trẻ đang hít thở và tất cả những gì trẻ có thể cho vào miệng. Trẻ được sinh ra với hệ miễn dịch và sự hỗ trợ từ miễn dịch của người mẹ trong giai đoạn bào thai nên có thể chống lại phần lớn các mầm bệnh, tuy nhiên vẫn có những bệnh lý chết người mà bản thân trẻ không thể chống lại được. Đây là lý do vì sao trẻ cần vắc xin để tăng cường hệ miễn dịch.

Theo BS. Đông Châu, vắcxin sử dụng số lượng rất nhỏ kháng nguyên để giúp cho hệ miễn dịch của trẻ nhận biết và học cách chống lại những căn bệnh nguy hiểm. Kháng nguyên là những phần của mầm bệnh mà có thể kích hệ miễn dịch của trẻ hoạt động”.

Chủng ngừa cho trẻ càng sớm, phản ứng càng êm

Nhờ có những tiến bộ khoa học, những vắcxin hiện nay sử dụng số lượng kháng nguyên ít hơn vẫn có thể bảo vệ được trẻ. Vắcxin chứa mảnh nhỏ của các kháng nguyên mà trẻ tiếp xúc trong môi trường hàng ngày. Các chuyên gia khẳng định, chủng ngừa là biện pháp bảo vệ sự sống nhiều hơn bất cứ biện pháp can thiệp sức khỏe nào khác và góp phần làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh tật ở cả trẻ em lẫn người lớn.

Chủng ngừa có tốt hơn miễn dịch từ nhiễm bệnh tự nhiên?

BS. Đông Châu: chủng ngừa chắc chắn sẽ tốt hơn. Bởi vì, hệ miễn dịch tự nhiên của trẻ sẽ không gặp trở ngại gì khi tiếp nhận những vi trùng/virút giảm độc lực hoặc chết. Một vài phản ứng phụ xảy ra thường nhẹ (ví dụ: sốt, sưng đau tại chỗ) và kéo dài vài ngày cũng như không ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của trẻ.

Theo BS. Đông Châu, chủng ngừa còn mang tính nhân văn vì không chỉ bảo vệ cho người được tiêm chủng mà còn bảo vệ những người xung quanh, đặc biệt là nhóm trẻ sơ sinh còn quá nhỏ để được chủng ngừa đầy đủ, cũng như những người/trẻ không thể chủng ngừa được vì những lý do y khoa riêng biệt.

Ngược lại, nếu trẻ mắc bệnh tự nhiên (ví dụ: bạch cầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm não Nhật Bản), hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, thậm chí tử vong hoặc để lại di chứng suốt đời. Điều này bởi vì các tác nhân gây bệnh khi xâm nhập vào cơ thể trẻ sẽ nhân lên rất nhanh và hệ miễn dịch của trẻ không được chuẩn bị để chống lại chúng.

Tình hình dịch cúm trong thời gian qua tại TP.HCM vô cùng phức tạp, bác sĩ có lời khuyên nào dành cho các bậc cha mẹ?

BS. Đông Châu: do cách nói của người Việt Nam nên dễ bị lầm giữa “cảm cúm” và “ bệnh cúm”, do đó nhiều người có quan niệm sai lầm rằng bệnh cúm chỉ đơn giảm là bệnh “cảm lạnh thông thường” và không có khả năng nhập viện hoặc gây tử vong. Nhiều người còn cho rằng chỉ cần chích ngừa cúm cho trẻ 1 đến 2 lần hoặc khi còn nhỏ là đủ hoặc đợi đến khi trẻ lớn mới chích ngừa.

Vắcxin cúm được cấy trên trứng gà, nên không tiêm cho trẻ bị dị ứng với trứng gà. Vắcxin này phù hợp với các yêu cầu của Tổ chức Y tế Thế giới cho mùa cúm của từng năm và bao gồm 2 chủng cúm A ổn định (A/H1N1 và A/H3N2 có khả năng gây đại dịch) và 1 chủng cúm B - cúm mùa thông thường theo dự báo của WHO và thay đổi qua từng năm. Lứa tuổi có thể tiêm vắcxin cúm từ 6 tháng tuổi trở lên, và chích nhắc lại mỗi năm một lần.

Một số người còn cho rằng chích ngừa cúm cũng không có hiệu quả vì trẻ vẫn bị viêm đường hô hấp nhiều lần trong năm. Điều đó là một quan niệm sai lầm. Chủng ngừa cúm giúp chúng ta ngừa virus cúm. Virút cúm thường gây ra đại dịch cúm, khiến cho bệnh nhân diễn tiến nhanh với những bệnh cảnh rất nặng như viêm phổi, suy hô hấp thậm chí tử vong. Còn viêm đường hô hấp ở trẻ do nhiều loại virút, vi trùng khác không chỉ riêng virút cúm, hiếm khi gây ra các di chứng nặng nề.

Bên cạnh đó, để phòng ngừa viêm phổi và viêm màng não thường dễ diễn tiến nặng ở trẻ dưới 5 tuổi, các chuyên gia khuyến cáo nên tiêm ngừa vắcxin phế cầu 10 chủng cho trẻ nhỏ từ 6 tuần đến 5 tuổi. Vắcxin này giúp phòng ngừa các bệnh do phế cầu Streptococus pneumoniae tuýp huyết thanh 1, 4, 5, 6B, 7F, 9V, 14, 18C, 19F và 23F thường gây ra các bệnh cảnh viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và viêm tai giữa. Mỗi năm, ước tính, trên thế giới có nửa triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong do các bệnh liên quan đến phế cầu. Đối tượng nguy cơ cao là trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người lớn tuổi. 40 - 70% trẻ khỏe mạnh dưới 5 tuổi mang vi khuẩn phế cầu vùng hầu họng, dễ gây lây lan qua đường hô hấp. Đặc biệt, hiện nay, phế cầu kháng thuốc kháng sinh rất nhiều.

AN QUÝ ghi

Mẹ “tá hỏa” khi bác sĩ phát hiện đầy sỏi trong thận của con trai 8 tuổi

Cháu Hoàng Viết L, 8 tuổi ở Tiên Lục, Lạng Giang, Bắc Giang nhập viện đa khoa tỉnh Bắc Giang trong tình trạng bí tiểu cấp. Qua khai thác bệnh sử cho thấy bé có các dấu hiệu rối loạn dòng tiểu từ lâu, tiều buốt, tiểu dắt. Gia đình cho biết đã đưa cháu đi khám nhiều nơi và được chẩn đoán viêm bàng quang, viêm đường tiết niệu nhiều lần nhưng điều trị không hiệu quả.

Qua thăm khám, làm siêu âm hệ niệu và X-quang bụng, các bác sĩ khoa Ngoại Thận – Tiến Niệu – Nam Học BVĐK Tỉnh Bắc Giang phát hiện nhiều viên sỏi ở cả hai thận kích thước nhỏ 3mm và có 01 viên sỏi bàng quang kích thước 10mm nằm sát cổ bang quang cản trở đường ra của nước tiểu đặc biệt ở tư thế đứng tiểu. Gia đình cháu L cho biết, rất ngạc nhiên vì nghĩ cháu bé như vậy thì không thể có sỏi thận được.

Tương tự trường hợp bé Nguyễn Trường Giang 5 tuổi trú tại Văn Khê, Hà Đông, chị Bùi Thuý Hà mẹ cháu Giang cho biết, vài tháng nay bé thường kêu đau bụng. Chị nghĩ con đau bụng do tiêu hóa hoặc giun nên đã cho con tẩy giun, tuy nhiên tình trạng vẫn không cải thiện. Lại nghĩ con bị dạ dày chị lại cho đi khám và siêu âm dạ dày cũng không đỡ nhưng khi siêu âm bác sĩ phát hiện trong đường tiết niệu có sỏi.

Hình ảnh sỏi tiết niệu của bé Hoàng Viết L 8 tuổi trên phim chụp

BSCK II Nguyễn Quang Cừ - Nguyên Trưởng phòng khám Tiết niệu sinh dục Bệnh viện Việt Đức cho biết, ông từng gặp cả bệnh nhi 2 tuổi đã bị sỏi thận, sỏi bàng quang. Với trẻ 5 đến 10 tuổi có sỏi thận không phải là quá hiếm gặp.

Cũng theo BS. Cừ, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sỏi thận ở trẻ, thường gặp nhất là do các bệnh gây rối loạn chuyển hóa như: rối loạn enzyme, hội chứng ống thận (sỏi calci-phosphat, sỏi cystinuria),...

Mặt khác, BS Cử cũng cho biết thêm, dù chưa được chứng minh nhưng cũng cần chú ý thói quen ăn nhiều thức ăn nhanh chứa nhiều muối, ít uống nước, ít vận động, bổ sung các loại vitamin, khoáng chất như canxi, vitamin C… là những nguyên nhân làm hình thành nhanh sỏi thận ở trẻ em, nhất là những trẻ có sẵn các bệnh lý rối loạn chuyển hóa.

Ngoài ra, những trẻ thường bị nhiễm trùng đường tiểu, có bất thường những chỗ hẹp tự nhiên của đường tiết niệu (hẹp khúc nối bể thận - niệu quản, hẹp khúc nối bàng quang - niệu quản) hay những bệnh lý gây cản trở sự tống xuất nước tiểu như bàng quang thần kinh... cũng là điều kiện thuận lợi để tạo sỏi.

Theo các chuyên gia y tế, khác với người lớn, sỏi bàng quang nói chung và sỏi tiết niệu nói riêng ở trẻ em là một bệnh khá hiếm gặp, tỷ lệ này chỉ khoảng 7,2 đến 14,2 trường hợp trong 100.000 trẻ (dưới 18 tuổi), và chiếm khoảng 0,15% trên tổng số các bệnh nhân mắc sỏi đường niệu.

Theo đó, các bác sĩ khuyến cáo ngoài các căn nguyên nội sinh tạo sỏi do các bệnh gây rối loạn chuyển hóa thì hoàn toàn có thể phòng bệnh cho trẻ bằng việc tác động vào các căn nguyên bên ngoài như việc thay đổi chế độ ăn và chế độ sinh hoạt của trẻ một cách hợp lý.

TRIỆU CHỨNG SỎI TIẾT NIỆU Ở TRẺTriệu chứng thường gặp của sỏi đường tiết niệu là đau vùng hông lưng, tiểu ít, tiểu máu, đặc biệt là nếu gia đình có tiền sử bị bệnh sỏi thận. Ở trẻ nhỏ thì trẻ dễ kích thích, quấy khóc, nôn ói, tiểu khó, tiểu nhiều lần thường xuyên nhiễm trùng tiểu biểu hiện qua triệu chứng la khóc mỗi lần đi tiểu. Nhiễm trùng tiểu thường biểu hiện ở trẻ dưới 4 tuổi với đau vùng hông, sốt, đôi khi tiểu đục Đôi khi bệnh sỏi thận ở trẻ chỉ phát hiện tình cờ qua siêu âm bụng.Sỏi đường tiết niệu trẻ em gặp nhiều nhất ở thận, tiếp theo là sỏi niệu quản, sỏi bàng quang ít gặp hơn nhưng lại có các triệu chứng rất đặc hiệu như tiểu khó, tiểu ngắt quãng (do sỏi cản trở đường ra của nước tiểu) và đi tiểu nhiều lần do cổ bàng quang bị kích thích.

H.Nguyên

Uống nước giúp khỏe mạnh cả ngày

Uong-nuoc-giup-khoe-manh-ca-ngay

Lời khuyên đối với bạn là, hãy uống đủ nước để thanh lọc cơ thể và phòng ngừa bệnh tật.

* Uống 2 cốc nước vào buổi sáng giúp kích hoạt, cung cấp năng lượng cho các cơ quan nội tạng trong cơ thể, bởi nước là nguồn sống, là yếu tố cần thiết cho mọi hoạt động của cơ thể.

Vì vậy, ngay sau khi ngủ dậy, bạn nên uống ngay 1 cốc nước. Đó là phương thức sống của người Nhật Bản, và các cuộc thử nghiệm khoa học đã chứng minh giá trị của việc chữa vô số bệnh nhờ uống nước ngay sau khi ngủ dậy. Nó giúp giảm đau đầu, đau cơ, giảm viêm khớp, tốt cho người bệnh tim, bệnh hen, tốt cho thận, giúp phòng ngừa viêm gan, tiểu đường,.... Bởi khi vừa ngủ dậy, uống nước như cách thanh lọc toàn bộ cơ thể, giúp các cơ quan nội tạng lấy lại năng lượng sau một đêm.

* Uống 1 cốc nước 30 phút trước mỗi bữa ăn sẽ giúp cho hệ tiêu hóa của bạn vận hành tốt hơn. Nước giúp bạn ngăn ngừa chứng táo bón. Uống nước trước bữa ăn cũng giúp bạn "ngang bụng" bớt, do đó bạn sẽ dễ dàng ăn nhiều rau hơn, ít ăn thức ăn béo đi, nhờ vậy bạn có thể giảm cân dễ dàng hoặc có thể áp dụng chế độ ăn lành mạnh để phòng ngừa các bệnh mạn tính. Uống nước trước bữa ăn giúp nước choán dạ dày, do vậy bạn dễ dàng ăn ít đi để có thể giảm cân hiệu quả.

Nên nhớ không nên uống quá sớm trước hoặc sau mỗi bữa ăn vì nước sẽ làm loãng dịch vị tiêu hóa. Uống nước 1 giờ sau bữa ăn giúp cơ thể dễ dàng hấp thu các dưỡng chất hơn.

* Uống 1 cốc nước trước khi tắm giúp ngăn ngừa tăng huyết áp. Bởi khi bạn tắm cũng là lúc cơ thể mất năng lượng. Uống nước sẽ giúp điều hòa huyết áp của bạn.

* Uống 1 cốc nước trước khi đi ngủ giúp ngăn ngừa cơn đau tim hoặc cơn đột quỵ.

Uống nước trước khi đi ngủ giúp bạn bổ sung nước cho cơ thể suốt đêm, tránh cơ thể bị mất nước vào ban đêm.

Phòng bệnh thật đơn giản chỉ với ly nước! Vậy bạn còn chần chừ gì nữa mà không thực hành.

Uong-nuoc-giup-khoe-manh-ca-ngay-3

Bạn có thể tham khảo lịch trình uống nước điển hình như sau. Tuy nhiên, việc bạn uống nước như thế nào có thể tùy thuộc vào lịch sinh hoạt của bạn nữa.

7h sáng: Cốc nước đầu tiên

Uống cốc nước đầu tiên ngay sau khi bạn thức dậy để "chữa khát" cho cơ thể sau một đêm dài. Ăn sáng ít nhất nửa giờ sau cốc nước đầu tiên.

9h sáng: Cốc nước thứ 2

Khoảng 1 giờ sau bữa sáng, hãy uống 1 ly nước và bắt đầu ngày làm việc của bạn.

11h30: Cốc nước thứ 3

Hãy uống nước 30 phút trước khi ăn trưa

13:30: Cốc nước thứ 4

Uống một cốc nước 1 giờ sau bữa trưa giúp các dưỡng chất từ thức ăn dễ dàng thẩm thấu vào cơ thể bạn qua ruột non.

15:00: Cốc nước thứ 5

Trong giờ ăn vặt chiều, hãy uống nước (đồ uống không đường) để giúp đầu óc sảng khoái tỉnh táo hơn

17:00: Cốc nước thứ 6

Cốc nước này sẽ giúp bạn cảm thấy bớt đói và giúp bạn không ăn quá đà vào bữa tối.

20:00: Cốc nước thứ 7

Hãy uống 1 ly nước 1 giờ sau bữa tối và trước khi bạn tắm.

22:00: Cốc nước thứ 8

Uống nước 1 giờ trước khi đi ngủ giúp quá trình tái tạo tế bào trong suốt giấc ngủ của bạn.

LiLy

(theo Pinterest, HealthXchange, Snopes)

Phòng viêm đường tiết niệu ở người cao tuổi

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng việc điều trị với người cao tuổi (NCT) thì gặp nhiều khó khăn hơn do sức đề kháng ngày một suy giảm.

Nguyên nhân gây bệnh

NCT do sức đề kháng ngày một giảm, thường mắc chứng sa sút trí tuệ (ảnh hưởng rất lớn đến sự điều hòa của thần kinh trung ương) đi tiểu không kiểm soát được cho nên dễ bị viêm đường tiết niệu ngược dòng. NCT có thể gặp nhiễm trùng đường tiết niệu cả phần trên (thận) và cả phần dưới (niệu quản, bàng quang, và niệu đạo).

Nên tập thói quen uống nhiều nước nhưng nên uống vào buổi sáng và chiều

Nguyên nhân nội sinh gây nhiễm trùng đường tiểu ở NCT như: Sỏi đường tiết niệu, một số trường hợp do cản trở dòng chảy của nước tiểu, lâu dần nước tiểu bị nhiễm vi sinh vật gây nhiễm trùng đường tiết niệu như: Một số bệnh của tiền liệt tuyến, bệnh đái tháo đường, chấn thương cột sống, nằm lâu do bại liệt hoặc do bất động bởi cố định xương bị gãy (gãy xương đùi hoặc xương chậu hay gặp ở NCT). Một số nguyên nhân ngoại sinh gây nên viêm đường tiết niệu như nong niệu đạo, mổ lấy sỏi hoặc mổ u xơ tiền liệt tuyến bị bội nhiễm, viêm tiền liệt tuyến đưa đến viêm đường tiết niệu.

Về căn nguyên gây nhiễm khuẩn cũng rất đa dạng nhưng chủ yếu là do vi khuẩn trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất vẫn là E.coli. Ngoài ra, còn gặp một số NCT bị viêm đường tiết niệu do vi nấm.

Một số biểu hiện

Một số triệu chứng hay gặp viêm đường tiết niệu ở NCT như đau lưng. Đau lưng có thể âm ỉ và xuất hiện từng lúc nhưng có khi đau thành cơn rõ rệt nhất là mỗi lúc có bưng bê hoặc xách, mang vật nặng. Nhiều trường hợp có sốt và rét run (tuy nhiên ở NCT có sức đề kháng kém thì sốt nhẹ hoặc không sốt mà chỉ thấy ớn lạnh), đi tiểu nhiều lần, tiểu khó (buồn đi tiểu nhưng không tiểu được) và có thể tiểu đau, buốt. Màu của nước tiểu có thể đục, có thể màu hồng (đái ra máu đại thể). Nếu viêm đường tiết niệu do có vật cản như sỏi đường tiết niệu thì thường kèm theo đau lưng hoặc có cơn đau quặn thận có thể bị đái dắt, đái buốt… Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu ngoài các triệu chứng lâm sàng do bác sĩ khám bệnh khai thác và phát hiện được thì rất cần làm các xét nghiệm có liên quan như siêu âm, chụp X-quang, xét nghiệm nước tiểu tìm căn nguyên vi khuẩn bằng cách cấy nước tiểu đúng thường quy mới hy vọng tìm ra căn nguyên gây nhiễm trùng của nó.

Làm gì khi bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu?

Một biện pháp nên làm thường xuyên là vệ sinh cá nhân cho thật tốt. Vệ sinh đường sinh dục ngoài và xung quanh vùng sinh dục ngoài (nhất là NCT là phụ nữ). Nên tập thói quen uống nhiều nước nhưng nên uống vào buổi sáng và chiều, cần hạn chế uống nhiều nước trước khi đi ngủ buổi tối để tránh đi tiểu đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ. Mỗi lần buồn đi tiểu là phải đi tiểu ngay không được nhịn tiểu bởi vì nhịn tiểu làm cho nước tiểu ứ đọng thời gian lâu sẽ gây bội nhiễm vi khuẩn và nguy cơ sẽ làm nhiễm trùng đường tiết niệu ngược dòng. Không nên uống bia vào buổi tối hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Trước khi đi ngủ buổi tối nên nhớ đi tiểu. Nếu NCT bị các bệnh như sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang…), các bệnh về tiền liệt tuyến thì cần được khám bệnh để được giải quyết càng sớm càng tốt tránh ảnh hưởng gây viêm đường tiết niệu khi đã biết rõ nguyên nhân.

BS. Quốc Ninh

Dị ứng thức ăn ở trẻ, tiên lượng của căn bệnh hen suyễn

Trẻ bị dị ứng trứng có nguy cơ mắc hen suyễn cao gấp nhiều lần trẻ không bị dị ứng.

Bệnh dị ứng nói chung bao gồm rất nhiều loại như: suyễn, chàm, viêm mũi dị ứng, mề đay, phản vệ, dị ứng thức ăn…

“Dị ứng là một phản ứng quá mức của hệ thống miễn dịch khi cơ thể tiếp xúc với những chất lạ. Khi bị dị ứng thực phẩm, hệ miễn dịch nghĩ rằng một số thực phẩm nhất định đang cố làm hại bạn cho nên thiết lập một phản ứng dị ứng để chống lại chúng. Dị ứng thường có tiền sử gia đình. Bố mẹ bị dị ứng như hen suyễn hoặc có cơ địa dị ứng hay viêm da cơ địa (chàm), trẻ sinh ra thường có nguy cơ bị dị ứng thức ăn”, BS. Thúy Mai cho biết.

Dị ứng thức ăn ở trẻ

Bệnh dị ứng thực ăn phổ biến ở trẻ em hơn ở người lớn. Tuy nhiên, trẻ em đôi khi sẽ vượt qua dị ứng thức ăn, đặc biệt là dị ứng với sữa, trứng hoặc đậu nành. Nhưng nếu bạn bị dị ứng thức ăn khi trưởng thành, chúng có thể sẽ theo bạn suốt đời. Những thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ lớn và người trưởng thành là hải sản, cá, đậu phụng, hạt vỏ cứng…

Theo BS. Thúy Mai, tỉ lệ dị ứng thức ăn theo y văn thế giới là 2 - 8%, còn ở Đông Nam Á, theo thống kê của Singapore, Nhật Bản, tỉ lệ này ở nhóm trẻ nhỏ thường là 8 - 12,6%.

“Tuy nhiên, dị ứng thức ăn không thường gặp. Thực tế, cha mẹ thường nghĩ con bị dị ứng thức ăn nhiều hơn là dị ứng thật sự. Ví dụ, cha mẹ nghĩ con mình bị dị ứng sữa chiếm 1,2 - 17%, nhưng thực tế trẻ dị ứng sữa chỉ từ 1 - 3%, 0,2 - 7% cha mẹ nghĩ con bị dị ứng trứng, nhưng chỉ có 1,7% trẻ bị dị ứng này. Một khảo sát tại Hà Nội cho thấy, cứ 100 cha mẹ đến 10 cha mẹ nghĩ con mình bị dị ứng với sữa, nhưng thật sự tỉ lệ dị ứng sữa ở trẻ chỉ có 2,2%”, BS. Thúy Mai nói.

Trong hầu hết các trường hợp dị ứng thức ăn, các triệu chứng dị ứng nhẹ như phát ban hoặc đau bụng; nghiêm trọng hơn có thể gây tử vong.

“Triệu chứng dị ứng thức ăn có thể xảy ra rất nhanh, chỉ trong vòng vài phút đến 1 - 2 giờ sau khi ăn như nổi mề đay, ói, hồng ban quanh miệng, viêm mũi, ho khò khè, tiêu chảy cấp. Nhưng đôi khi, các triệu chứng này diễn ra sau 1 tuần với biểu hiện như tiêu chảy, táo bón, chàm mạn, suy dinh dưỡng, triệu chứng hô hấp mạn tính. Cha mẹ có thể nghĩ con bị dị ứng thức ăn khi trẻ bị các phản ứng dị ứng lặp đi lặp lại với một loại thức ăn và hoàn toàn không liên quan đến lượng thức ăn ăn vào”, BS. Thúy Mai mô tả.

Dị ứng thức ăn ở trẻTrẻ bị dị ứng có nguy cơ mắc hen suyễn cao gấp 4,6 lần trẻ không bị dị ứng

Đặc biệt, theo khuyến cáo của các chuyên gia dị ứng BV. Nhi Đồng 1, 10 - 20% trẻ bị hen suyễn có dị ứng thức ăn, nguy cơ đó càng tăng cao khi có tiền sử gia đình kèm theo.

Bác sĩ sẽ hỏi những câu hỏi về bệnh sử và bất kỳ dị ứng thức ăn nào từng xảy ra cho từng thành viên trong gia đình và ghi lại mọi thứ trẻ ăn và bất kỳ phản ứng nào nếu có. Bác sĩ sẽ xem xét các khả năng khác có thể nhầm lẫn với dị ứng thức ăn, chẳng hạn như không dung nạp thức ăn.

Ăn uống là cách tốt nhất để chẩn đoán dị ứng thực phẩm. Tại bệnh viện, trẻ sẽ được cho ăn các thức ăn nghi ngờ là tác nhân gây dị ứng từ liều thấp nhất và tăng dần. Bác sĩ sẽ theo dõi phản ứng dị ứng có xuất hiện hay không. Bên cạnh đó, bác sĩ sẽ tiến hành test lẩy da. Nếu vùng da đó sưng đỏ lên chứng tỏ trẻ có một dị ứng thức ăn. Bác sĩ cũng có thể làm xét nghiệm máu để tìm các chất trong máu gây ra phản ứng dị ứng.

Khi đã được chẩn đoán dị ứng thức ăn, trẻ tiếp tục thực hiện chế độ ăn kiêng, ngưng sử dụng thực phẩm nghi ngờ gây dị ứng; đồng thời cẩn thận với các thực phẩm mới chưa rõ thành phần.

An Quý

5 sai lầm thường gặp khi nuôi con

Hiện nay, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 14,1%, suy dinh dưỡng thấp còi là 24,6%. Suy dinh dưỡng do nhiều nguyên ...