Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Uống nước giúp khỏe mạnh cả ngày

Uong-nuoc-giup-khoe-manh-ca-ngay

Lời khuyên đối với bạn là, hãy uống đủ nước để thanh lọc cơ thể và phòng ngừa bệnh tật.

* Uống 2 cốc nước vào buổi sáng giúp kích hoạt, cung cấp năng lượng cho các cơ quan nội tạng trong cơ thể, bởi nước là nguồn sống, là yếu tố cần thiết cho mọi hoạt động của cơ thể.

Vì vậy, ngay sau khi ngủ dậy, bạn nên uống ngay 1 cốc nước. Đó là phương thức sống của người Nhật Bản, và các cuộc thử nghiệm khoa học đã chứng minh giá trị của việc chữa vô số bệnh nhờ uống nước ngay sau khi ngủ dậy. Nó giúp giảm đau đầu, đau cơ, giảm viêm khớp, tốt cho người bệnh tim, bệnh hen, tốt cho thận, giúp phòng ngừa viêm gan, tiểu đường,.... Bởi khi vừa ngủ dậy, uống nước như cách thanh lọc toàn bộ cơ thể, giúp các cơ quan nội tạng lấy lại năng lượng sau một đêm.

* Uống 1 cốc nước 30 phút trước mỗi bữa ăn sẽ giúp cho hệ tiêu hóa của bạn vận hành tốt hơn. Nước giúp bạn ngăn ngừa chứng táo bón. Uống nước trước bữa ăn cũng giúp bạn "ngang bụng" bớt, do đó bạn sẽ dễ dàng ăn nhiều rau hơn, ít ăn thức ăn béo đi, nhờ vậy bạn có thể giảm cân dễ dàng hoặc có thể áp dụng chế độ ăn lành mạnh để phòng ngừa các bệnh mạn tính. Uống nước trước bữa ăn giúp nước choán dạ dày, do vậy bạn dễ dàng ăn ít đi để có thể giảm cân hiệu quả.

Nên nhớ không nên uống quá sớm trước hoặc sau mỗi bữa ăn vì nước sẽ làm loãng dịch vị tiêu hóa. Uống nước 1 giờ sau bữa ăn giúp cơ thể dễ dàng hấp thu các dưỡng chất hơn.

* Uống 1 cốc nước trước khi tắm giúp ngăn ngừa tăng huyết áp. Bởi khi bạn tắm cũng là lúc cơ thể mất năng lượng. Uống nước sẽ giúp điều hòa huyết áp của bạn.

* Uống 1 cốc nước trước khi đi ngủ giúp ngăn ngừa cơn đau tim hoặc cơn đột quỵ.

Uống nước trước khi đi ngủ giúp bạn bổ sung nước cho cơ thể suốt đêm, tránh cơ thể bị mất nước vào ban đêm.

Phòng bệnh thật đơn giản chỉ với ly nước! Vậy bạn còn chần chừ gì nữa mà không thực hành.

Uong-nuoc-giup-khoe-manh-ca-ngay-3

Bạn có thể tham khảo lịch trình uống nước điển hình như sau. Tuy nhiên, việc bạn uống nước như thế nào có thể tùy thuộc vào lịch sinh hoạt của bạn nữa.

7h sáng: Cốc nước đầu tiên

Uống cốc nước đầu tiên ngay sau khi bạn thức dậy để "chữa khát" cho cơ thể sau một đêm dài. Ăn sáng ít nhất nửa giờ sau cốc nước đầu tiên.

9h sáng: Cốc nước thứ 2

Khoảng 1 giờ sau bữa sáng, hãy uống 1 ly nước và bắt đầu ngày làm việc của bạn.

11h30: Cốc nước thứ 3

Hãy uống nước 30 phút trước khi ăn trưa

13:30: Cốc nước thứ 4

Uống một cốc nước 1 giờ sau bữa trưa giúp các dưỡng chất từ thức ăn dễ dàng thẩm thấu vào cơ thể bạn qua ruột non.

15:00: Cốc nước thứ 5

Trong giờ ăn vặt chiều, hãy uống nước (đồ uống không đường) để giúp đầu óc sảng khoái tỉnh táo hơn

17:00: Cốc nước thứ 6

Cốc nước này sẽ giúp bạn cảm thấy bớt đói và giúp bạn không ăn quá đà vào bữa tối.

20:00: Cốc nước thứ 7

Hãy uống 1 ly nước 1 giờ sau bữa tối và trước khi bạn tắm.

22:00: Cốc nước thứ 8

Uống nước 1 giờ trước khi đi ngủ giúp quá trình tái tạo tế bào trong suốt giấc ngủ của bạn.

LiLy

(theo Pinterest, HealthXchange, Snopes)

Phòng viêm đường tiết niệu ở người cao tuổi

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng việc điều trị với người cao tuổi (NCT) thì gặp nhiều khó khăn hơn do sức đề kháng ngày một suy giảm.

Nguyên nhân gây bệnh

NCT do sức đề kháng ngày một giảm, thường mắc chứng sa sút trí tuệ (ảnh hưởng rất lớn đến sự điều hòa của thần kinh trung ương) đi tiểu không kiểm soát được cho nên dễ bị viêm đường tiết niệu ngược dòng. NCT có thể gặp nhiễm trùng đường tiết niệu cả phần trên (thận) và cả phần dưới (niệu quản, bàng quang, và niệu đạo).

Nên tập thói quen uống nhiều nước nhưng nên uống vào buổi sáng và chiều

Nguyên nhân nội sinh gây nhiễm trùng đường tiểu ở NCT như: Sỏi đường tiết niệu, một số trường hợp do cản trở dòng chảy của nước tiểu, lâu dần nước tiểu bị nhiễm vi sinh vật gây nhiễm trùng đường tiết niệu như: Một số bệnh của tiền liệt tuyến, bệnh đái tháo đường, chấn thương cột sống, nằm lâu do bại liệt hoặc do bất động bởi cố định xương bị gãy (gãy xương đùi hoặc xương chậu hay gặp ở NCT). Một số nguyên nhân ngoại sinh gây nên viêm đường tiết niệu như nong niệu đạo, mổ lấy sỏi hoặc mổ u xơ tiền liệt tuyến bị bội nhiễm, viêm tiền liệt tuyến đưa đến viêm đường tiết niệu.

Về căn nguyên gây nhiễm khuẩn cũng rất đa dạng nhưng chủ yếu là do vi khuẩn trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất vẫn là E.coli. Ngoài ra, còn gặp một số NCT bị viêm đường tiết niệu do vi nấm.

Một số biểu hiện

Một số triệu chứng hay gặp viêm đường tiết niệu ở NCT như đau lưng. Đau lưng có thể âm ỉ và xuất hiện từng lúc nhưng có khi đau thành cơn rõ rệt nhất là mỗi lúc có bưng bê hoặc xách, mang vật nặng. Nhiều trường hợp có sốt và rét run (tuy nhiên ở NCT có sức đề kháng kém thì sốt nhẹ hoặc không sốt mà chỉ thấy ớn lạnh), đi tiểu nhiều lần, tiểu khó (buồn đi tiểu nhưng không tiểu được) và có thể tiểu đau, buốt. Màu của nước tiểu có thể đục, có thể màu hồng (đái ra máu đại thể). Nếu viêm đường tiết niệu do có vật cản như sỏi đường tiết niệu thì thường kèm theo đau lưng hoặc có cơn đau quặn thận có thể bị đái dắt, đái buốt… Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu ngoài các triệu chứng lâm sàng do bác sĩ khám bệnh khai thác và phát hiện được thì rất cần làm các xét nghiệm có liên quan như siêu âm, chụp X-quang, xét nghiệm nước tiểu tìm căn nguyên vi khuẩn bằng cách cấy nước tiểu đúng thường quy mới hy vọng tìm ra căn nguyên gây nhiễm trùng của nó.

Làm gì khi bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu?

Một biện pháp nên làm thường xuyên là vệ sinh cá nhân cho thật tốt. Vệ sinh đường sinh dục ngoài và xung quanh vùng sinh dục ngoài (nhất là NCT là phụ nữ). Nên tập thói quen uống nhiều nước nhưng nên uống vào buổi sáng và chiều, cần hạn chế uống nhiều nước trước khi đi ngủ buổi tối để tránh đi tiểu đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ. Mỗi lần buồn đi tiểu là phải đi tiểu ngay không được nhịn tiểu bởi vì nhịn tiểu làm cho nước tiểu ứ đọng thời gian lâu sẽ gây bội nhiễm vi khuẩn và nguy cơ sẽ làm nhiễm trùng đường tiết niệu ngược dòng. Không nên uống bia vào buổi tối hoặc trước khi đi ngủ buổi tối. Trước khi đi ngủ buổi tối nên nhớ đi tiểu. Nếu NCT bị các bệnh như sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang…), các bệnh về tiền liệt tuyến thì cần được khám bệnh để được giải quyết càng sớm càng tốt tránh ảnh hưởng gây viêm đường tiết niệu khi đã biết rõ nguyên nhân.

BS. Quốc Ninh

Dị ứng thức ăn ở trẻ, tiên lượng của căn bệnh hen suyễn

Trẻ bị dị ứng trứng có nguy cơ mắc hen suyễn cao gấp nhiều lần trẻ không bị dị ứng.

Bệnh dị ứng nói chung bao gồm rất nhiều loại như: suyễn, chàm, viêm mũi dị ứng, mề đay, phản vệ, dị ứng thức ăn…

“Dị ứng là một phản ứng quá mức của hệ thống miễn dịch khi cơ thể tiếp xúc với những chất lạ. Khi bị dị ứng thực phẩm, hệ miễn dịch nghĩ rằng một số thực phẩm nhất định đang cố làm hại bạn cho nên thiết lập một phản ứng dị ứng để chống lại chúng. Dị ứng thường có tiền sử gia đình. Bố mẹ bị dị ứng như hen suyễn hoặc có cơ địa dị ứng hay viêm da cơ địa (chàm), trẻ sinh ra thường có nguy cơ bị dị ứng thức ăn”, BS. Thúy Mai cho biết.

Dị ứng thức ăn ở trẻ

Bệnh dị ứng thực ăn phổ biến ở trẻ em hơn ở người lớn. Tuy nhiên, trẻ em đôi khi sẽ vượt qua dị ứng thức ăn, đặc biệt là dị ứng với sữa, trứng hoặc đậu nành. Nhưng nếu bạn bị dị ứng thức ăn khi trưởng thành, chúng có thể sẽ theo bạn suốt đời. Những thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ lớn và người trưởng thành là hải sản, cá, đậu phụng, hạt vỏ cứng…

Theo BS. Thúy Mai, tỉ lệ dị ứng thức ăn theo y văn thế giới là 2 - 8%, còn ở Đông Nam Á, theo thống kê của Singapore, Nhật Bản, tỉ lệ này ở nhóm trẻ nhỏ thường là 8 - 12,6%.

“Tuy nhiên, dị ứng thức ăn không thường gặp. Thực tế, cha mẹ thường nghĩ con bị dị ứng thức ăn nhiều hơn là dị ứng thật sự. Ví dụ, cha mẹ nghĩ con mình bị dị ứng sữa chiếm 1,2 - 17%, nhưng thực tế trẻ dị ứng sữa chỉ từ 1 - 3%, 0,2 - 7% cha mẹ nghĩ con bị dị ứng trứng, nhưng chỉ có 1,7% trẻ bị dị ứng này. Một khảo sát tại Hà Nội cho thấy, cứ 100 cha mẹ đến 10 cha mẹ nghĩ con mình bị dị ứng với sữa, nhưng thật sự tỉ lệ dị ứng sữa ở trẻ chỉ có 2,2%”, BS. Thúy Mai nói.

Trong hầu hết các trường hợp dị ứng thức ăn, các triệu chứng dị ứng nhẹ như phát ban hoặc đau bụng; nghiêm trọng hơn có thể gây tử vong.

“Triệu chứng dị ứng thức ăn có thể xảy ra rất nhanh, chỉ trong vòng vài phút đến 1 - 2 giờ sau khi ăn như nổi mề đay, ói, hồng ban quanh miệng, viêm mũi, ho khò khè, tiêu chảy cấp. Nhưng đôi khi, các triệu chứng này diễn ra sau 1 tuần với biểu hiện như tiêu chảy, táo bón, chàm mạn, suy dinh dưỡng, triệu chứng hô hấp mạn tính. Cha mẹ có thể nghĩ con bị dị ứng thức ăn khi trẻ bị các phản ứng dị ứng lặp đi lặp lại với một loại thức ăn và hoàn toàn không liên quan đến lượng thức ăn ăn vào”, BS. Thúy Mai mô tả.

Dị ứng thức ăn ở trẻTrẻ bị dị ứng có nguy cơ mắc hen suyễn cao gấp 4,6 lần trẻ không bị dị ứng

Đặc biệt, theo khuyến cáo của các chuyên gia dị ứng BV. Nhi Đồng 1, 10 - 20% trẻ bị hen suyễn có dị ứng thức ăn, nguy cơ đó càng tăng cao khi có tiền sử gia đình kèm theo.

Bác sĩ sẽ hỏi những câu hỏi về bệnh sử và bất kỳ dị ứng thức ăn nào từng xảy ra cho từng thành viên trong gia đình và ghi lại mọi thứ trẻ ăn và bất kỳ phản ứng nào nếu có. Bác sĩ sẽ xem xét các khả năng khác có thể nhầm lẫn với dị ứng thức ăn, chẳng hạn như không dung nạp thức ăn.

Ăn uống là cách tốt nhất để chẩn đoán dị ứng thực phẩm. Tại bệnh viện, trẻ sẽ được cho ăn các thức ăn nghi ngờ là tác nhân gây dị ứng từ liều thấp nhất và tăng dần. Bác sĩ sẽ theo dõi phản ứng dị ứng có xuất hiện hay không. Bên cạnh đó, bác sĩ sẽ tiến hành test lẩy da. Nếu vùng da đó sưng đỏ lên chứng tỏ trẻ có một dị ứng thức ăn. Bác sĩ cũng có thể làm xét nghiệm máu để tìm các chất trong máu gây ra phản ứng dị ứng.

Khi đã được chẩn đoán dị ứng thức ăn, trẻ tiếp tục thực hiện chế độ ăn kiêng, ngưng sử dụng thực phẩm nghi ngờ gây dị ứng; đồng thời cẩn thận với các thực phẩm mới chưa rõ thành phần.

An Quý

Những điều cần biết về nứt kẽ hậu môn

Các triệu chứng bao gồm đau dữ dội và cảm giác nóng rát trong và sau khi đi ngoài, ngoài ra có chảy máy trực tràng. Nứt kẽ hậu môn rất dễ nhầm với bệnh trĩ vì cả hai tình trạng này đều có thể gây chảy máu trực tràng. Tuy nhiên, chúng là hai vấn đề khác nhau.

Nguyên nhân chính gây nứt kẽ hậu môn là do táo bón. Tuy nhiên, không có nguyên nhân rõ ràng đằng sau tình trạng này vì trên thực tế lâm sàng có nhiều bệnh nhân không bị táo bón. Nguyên nhân gây ra các vết nứt hoặc rách ở niêm mạc hậu môn chủ yếu do khối phân cứng.

Những thực phẩm chế biến sẵn cùng với những thực phẩm có lượng chất béo trans cao có thể gây nên tình trạng này. Ngoài ra, thiếu vận động, ăn ít chất xơ và những thay đổi lối sống khác khiến cho nhiều người bị nứt kẽ hậu môn.

Khi nào cần điều trị?

Những người thuộc mọi độ tuổi đều có thể bị nứt kẽ hậu môn. Thông thường, những vết nứt hậu môn có xu hướng tự lành trong vòng 2-3 tuần nếu bạn thay đổi chế độ ăn và bổ sung nhiều chất xơ hơn. Cùng với đó, bác sĩ tiêu hóa sẽ kê cho bạn gel bôi tại chỗ hoặc thuốc mỡ giảm đau cùng với thuốc làm mềm phân và thuốc nhuận tràng. Khi được điều trị, bạn cũng được khuyên ngồi ngâm vùng hậu môn trong chậu nước ấm pha với thuốc tím hoặc dung dịch iod povidon ít nhất 2 lần mỗi ngày. Cách này giúp giảm đau tạm thời.

Tuy nhiên, nếu đã được điều trị mà các triệu chứng không giảm, bạn cần phải phẫu thuật. Chỉ có 20% bệnh nhân bị nứt kẽ hậu môn cần phải phẫu thuật

Dưới đây là những lựa chọn phẫu thuật thường được sử dụng để điều trị nứt kẽ hậu môn:

Nong hậu môn

Phẫu thuật này ngăn ngừa lỗ hậu môn bị chit hẹp và được thực hiện với gây mê. Trong thủ thuật, hậu môn được nong ra dần dần bằng panh hậu môn. Bạn có thể được chỉ định thực hiện phẫu thuật này sau khi thăn trực tràng nếu bị nứt kẽ hậu môn mạn tính với các triệu chứng tái phát.

Cắt cơ vòng hậu môn

Trong thủ thuật này, một vết rạch được tạo ra ở cơ vòng hậu môn để nowuis lỏng vết nứt hoặc rách, nhờ đó làm giảm sức căng và giảm áp lực lên vết rách hậu môn, cho phép vết thường liền dần sau phẫu thuật. Trong thủ thuật này, chức năng sinh lý chung được chỉnh sửa.

Thủ thuật STARR

Trong trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán bị hội chứng đại tiện tắc nghẽn gây rách hậu môn, bác sĩ phẫu thuật có thể chỉ định kỹ thuật cắt túi sa trực tràng qua ngả hậu môn (STARR). Trong thủ thuật này, kẹp phẫu thuật được sử dụng để cắt mô thừa trong trực tràng. Tuy nhiên, trước khi lựa chọn thủ thuật này, cần nhớ rằng có một số biến chứng sau thủ thuật STARR như chảy máu, đại tiện không kiểm soát, lỗ rò và các triệu chứng khác. Hãy trao đổi với bác sĩ về các ưu khuyết điểm và tham khảo ý kiến khác nữa nếu bạn đang cân nhắc phẫu thuật để điều trị nứt kẽ hậu môn.

BS Cẩm Tú

(Theo THS/ Univadis)

Chăm sóc trẻ bị ban nhiệt do nóng

Normal0falsefalsefalseMicrosoftInternetExplorer4

Ban nhiệt là tổn thương da phổ biến ở trẻ em vào mùa hè. Ban nhiệt thường không nguy hiểm song nếu không chăm sóc đúng cách sẽ làm bệnh lâu lành, thậm chí có biến chứng gây nhiễm khuẩn.

Ban nhiệt là tình trạng da bị phát ban do viêm tấy, nổi những hạt nhỏ li ti hoặc mảng màu hồng, xảy ra khi trẻ đổ mồ hôi nhiều hơn bình thường. Nguyên nhân do các lỗ chân lông bị bít kín, tuyến mồ hôi bị tắc nghẽn do tế bào chết của da hoặc vi khuẩn. Ban nhiệt xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể, thường gặp ở những vùng mồ hôi tiết ra nhiều như trán, cổ vai, lưng, ngực, vùng tã lót, các nếp gấp của cơ thể gây ngứa nhiều từng cơn. Bệnh xuất hiện trong vài ngày và hết nhanh khi nhiệt độ môi trường cải thiện, lúc trẻ ngừng đổ mồ hôi. Tùy mức độ tắc nghẽn ống tuyến mồ hôi nông hay sâu có 3 dạng ban nhiệt:

Ban hạt kê: Còn gọi là ban bạch, thường gặp ở trẻ sơ sinh, gồm những bóng nước trắng li ti xuất hiện từng đám, không viêm cũng không đỏ xung quanh. Ban hạt kê ít gây ngứa và thường biến mất trong vài giờ đến vài ngày.

Chăm sóc trẻ bị ban nhiệt do nóng 1Khi trẻ nổi ban nhiệt phải chăm sóc đúng và theo dõi cẩn thận, không tự ý điều trị theo kinh nghiệm.

Ban kê đỏ: Còn gọi là rôm sảy là dạng thường gặp nhất ở trẻ em. Da đỏ lên, xuất hiện rất nhiều bóng nước rời rạc hoặc thành từng chùm dạng đốm lấm tấm đỏ trên da, gây cảm giác như bị kim châm chích hoặc rát ngứa dữ dội từng cơn. Trẻ bệnh thường gãi nhiều, khó chịu và hay quấy khóc.

Ban kê sâu hay ban kê mủ: Là dạng ít gặp, xảy ra khi trẻ bị nhiều đợt rôm sảy tái đi tái lại. Ban lúc này là những mụn cứng, màu sậm hơn. Dạng này cũng ít ngứa hơn rôm sảy nhưng nguy hiểm vì dễ dẫn đến kiệt sức.

Cách chăm sóc đúng

Để bảo vệ làn da của trẻ nhỏ mùa nắng nóng các bậc phụ huynh nên lưu ý làm dịu, mát da trẻ bằng cách cho trẻ chơi, ngủ ở nơi mát mẻ. Tránh ủ kỹ, mặc quá nhiều quần áo. Không tắm nước nóng, xà phòng dễ gây kích ứng da khiến ngứa, tổn thương da nhiều hơn. Nếu trẻ còn đang bú người mẹ cần hạn chế những thực phẩm, gia vị cay nóng.

Khi trẻ bị ban nhiệt, cha mẹ  cần chăm sóc đúng bằng cách giữ cho da trẻ mát, sạch và khô để giảm ngứa và giảm các kích thích ở da. Tránh đổ mồ hôi nhiều bằng cách cho trẻ ở nơi thông thoáng, mát mẻ..., ngủ dưới quạt nhẹ. Đối với trẻ biết đi cần hạn chế trẻ chạy nhảy quá nhiều ngoài trời nắng nóng sẽ đổ mồ hôi... sẽ hạn chế tổn thương da rộng hơn.

 Hàng ngày cần tắm rửa cho trẻ chú ý các vùng da cọ xát, các nếp kẽ cần nhẹ nhàng tránh tổn thương da.  Cho trẻ mặc quần áo rộng rãi, bằng chất liệu mỏng và thấm mồ hôi. Cắt ngắn móng tay trẻ để tránh gãi ngứa. Ngoài ra, cho trẻ uống nhiều nước, ăn đầy đủ các chất như: rau quả, vitamin và chất khoáng. Tránh thức ăn cay, mặn, thức uống nóng.

Đưa trẻ đi khám bệnh khi: Tổn thương da lan rộng, trẻ gãi ngứa nhiều hơn, da sưng đỏ, đau,... kèm theo trẻ quấy khóc, sốt, mệt nhiều hơn, hoặc ban nhiệt không giảm sau 3 ngày nhằm tránh trẻ bị những biến chứng nguy hiểm. Nếu vùng da bị ban nhiệt có trầy loét, chảy nước, cần thoa thuốc tại chỗ theo hướng dẫn của bác sĩ. Không bôi phấn rôm lên vùng da bị tổn thương.

Khi trẻ nổi ban nhiệt phải chăm sóc đúng và theo dõi cẩn thận, không tự ý điều trị theo kinh nghiệm.

Bác sĩ Kim Thoa

/* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}

Xử trí và phòng ngừa chứng say nắng ở trẻ

Normal0falsefalsefalseMicrosoftInternetExplorer4

Những ngày gần đây thời tiết nắng nóng, khí trời oi bức đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe con người, nhất là trẻ em. Một trong những ảnh hưởng rất dễ nhận biết khi nhiệt độ môi trường tăng cao là tình trạng mất nước do sự tăng tiết mồ hôi qua da và sự mất nước qua hơi thở làm cho trẻ luôn cảm thấy mệt mỏi, bứt rứt. Nghiêm trọng hơn trẻ em có thể bị say nắng.

Nguyên nhân trẻ say nắng thường do cơ thể bị phơi dưới ánh nắng nóng quá lâu, vượt quá mức chịu đựng của cơ thể, dẫn đến nhiều rối loạn ở các cơ quan, nhất là hệ thần kinh.

Xử trí và phòng ngừa chứng say nắng ở trẻ 1

Nên cho trẻ uống nhiều nước khi đi ra ngoài trời nắng nóng

Những dấu hiệu trẻ đang bị say nắng

Khi cơ thể bị nóng quá mức, trung tâm điều hòa nhiệt độ ở thân não ứng biến bằng cách tiết mồ hôi để hạ bớt sức nóng của cơ thể. Tuy nhiên đối với trẻ em, trung tâm này chưa phát triển hoàn chỉnh nên sự giải nhiệt không tốt, khiến trẻ rất dễ bị say nắng khi cơ thể phải phơi nắng quá lâu. Nếu không cấp cứu kịp thời, trẻ có thể tử vong. Những dấu hiệu gợi ý sau đây báo hiệu trẻ đang bị say nắng:

- Mệt mỏi, mắt lờ đờ.

- Cơ thể nóng ran, mặt đỏ gay, thân nhiệt lên đến 41độC.

- Trẻ than đau đầu, chóng mặt, hoa mắt.

- Trẻ có giác buồn nôn, ói mửa.

- Một số trẻ có thể bị ngất xỉu.

- Nhịp thở yếu, nhanh.

- Mạch nhanh yếu, khó bắt, hoặc thậm chí không bắt được mạch.

- Trường hợp say nắng nặng, trẻ sẽ hôn mê hoàn toàn và lên những cơn co giật.

Sơ cứu đúng cách trẻ bị say nắng

Khi trẻ bị say nắng, cần nhanh chóng tìm phương tiện đưa trẻ đi cấp cứu tại một cơ sở y tế gần nhất để bảo đảm sự an toàn cho trẻ. Trong khi chờ đợi, phụ huynh phải thật bình tĩnh thực hiện ngay một số biện pháp sau đây:

- Nhanh chóng đưa trẻ đến chỗ thoáng mát như phòng thông gió, hành lang có mái che hoặc dưới tán cây có nhiều bóng mát.

- Cởi hết quần áo trẻ giúp trẻ hạ nhiệt và dễ thở.

- Dùng khăn thấm nước mát đắp lên đầu, lên trán trẻ để giải nhiệt.

- Dùng một khăn khác, cũng thấm nước mát, lau nhẹ nhàng mình mẩy, chân tay của trẻ.

- Cho trẻ uống nước đầy đủ (nước trái cây, nước khoáng, hoặc nước đã đun sôi để nguội). Cho trẻ uống thật từ từ, từng chút một để tránh làm cho trẻ bị nôn.

Những biện pháp kể trên cũng cần được tiếp tục thực hiện trong xe trên đường đến bệnh viện vì chúng rất hữu ích cho việc xử trí say nắng tiếp nối khi trẻ đến bệnh viện.

Phòng ngừa hiệu quả chứng say nắng ở trẻ

- Nên cho trẻ uống nhiều nước khi đi ra ngoài trời nắng nóng vì trẻ sẽ bị đổ mồ hôi nhiều và cơ thể rất dễ bị mất nước. Trẻ còn bú mẹ nên cho trẻ bú mẹ càng nhiều càng tốt. Những trẻ phải luyện tập thể lực hoặc tham gia các trò chơi vận động ngoài trời thì lượng nước mất sẽ nhiều hơn như vậy cần cho trẻ uống nước ngay cả khi trẻ chưa cảm thấy khát.

- Hạn chế tối đa việc cho trẻ đi ra ngoài đường trong giờ nắng nóng cao điểm từ 11h - 4h chiều. Và khi đi ra nắng, hãy đảm bảo toàn cơ thể của trẻ cần được che nắng kín đáo như mặc áo dài tay, quần dài cho trẻ, đeo khẩu trang và đội mũ rộng vành cho trẻ để hạn chế tác hại sức nóng của ánh nắng mặt trời.

- Cần tránh đột ngột sự tiếp xúc với nắng nóng. Không nên để trẻ quá gắng sức khi luyện tập thể lực hoặc chơi đùa ngoài nắng. Khi trẻ cảm thấy mệt mỏi, ra mồ hôi quá nhiều nên khẩn trường đưa trẻ vào chỗ râm mát để nghỉ ngơi.

- Mặc cho trẻ quần áo thoáng, mát, màu nhạt để dễ thấm mồ hôi và thoát nhiệt, và giúp tránh hấp thụ nhiệt từ môi trường.

ThS.BS. ĐINH THẠC

/* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}

Xử trí bệnh gút cấp tính

Gút cấp thường có liên quan nhất đến chế độ ăn uống, nhất là trong và sau Tết hoặc sau các bữa tiệc bệnh gút cấp có xu hướng gia tăng, đặc biệt người đang mang sẵn bệnh gút trong mình. Vậy, nên xử trí và phòng ngừa như thế nào?

Nguyên nhân của bệnh gút

Bệnh gút xảy ra do rối loạn chuyển hóa acid uric trong cơ thể, làm tăng nồng độ acid uric trong máu, dẫn đến lắng đọng natri urat trong khớp, thận và tổ chức dưới da, gây đau. Cơn gút cấp tính lần đầu thường xảy ra ở lứa tuổi 35-55, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới.

Sự hình thành và đào thải acid uric: Acid uric là sản phẩm giáng hóa của nucleotid có bazơ là purin. Có 3 nguồn cung cấp acid uric, đó là hoặc do giáng hóa acid nucleic từ thức ăn đưa vào hoặc do giáng hóa acid nucleic từ các tế bào bị chết hoặc do tổng hợp nội sinh và chuyển hóa purin trong cơ thể nhờ các men đặc hiệu hoặc do cả ba nguồn.

Acid uric được đào thải qua nước tiểu khoảng từ 450-500mg/ngày và trong phân 200mg/ngày. Khi qua thận, urat được cầu thận lọc hoàn toàn, rồi tái hấp thu gần hoàn toàn ở ống lượn gần cuối cùng được ống lượn xa bài tiết. Trong phân, acid uric được các vi khuẩn phân hủy.

Nồng độ acid uric trong máu người bình thường từ 208-327μmol/l. Khi nồng độ trên 416,5μmol/l, được gọi là tăng acid uric máu.Gút cấp gây sưng nóng đỏ, đau dữ dội tại khớp.

Gút cấp gây sưng nóng đỏ, đau dữ dội tại khớp.

Các nguyên nhân làm tăng acid uric máu

Do dùng nhiều thức ăn có chứa nhiều purin, tăng giáng hóa nucleoprotein tế bào, tăng tổng hợp purin nội sinh; hoặc do giảm đào thải acid uric qua đường nước tiểu bởi vì giảm độ lọc cầu thận, giảm bài tiết của ống thận; và có thể do giảm phân hủy acid uric trong phân do vi khuẩn.

Biểu hiện của bệnh gút cấp

Cơn viêm cấp của bệnh gút xuất hiện sau khi uống nhiều rượu, bia, ăn nhiều thịt (nhất là các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt chó, trâu), phủ tạng động vật (tim, gan, thận, lòng), hải sản (tôm) hoặc bệnh xuất hiện sau lao động nặng, sang chấn tinh thần, sau nhiễm khuẩn cấp, sau dùng một số thuốc,... Đặc biệt trong và sau Tết do ăn uống không kiêng khem, nhất là người đã mang trong mình bệnh gút, rất dễ xuất hiện gút cấp.

Đa số gút cấp biểu hiện rõ nhất là khớp sưng to, đặc biệt là khớp ngón chân cái, cổ chân, khớp gối hoặc khớp ngón tay, bàn tay (thường một bên). Khớp đỏ, phù nề, căng bóng, nóng, đau dữ dội và tăng dần, chỉ cần va chạm nhẹ cũng rất đau, thay đổi mọi tư thế đều không dịu đi. Bệnh gút cấp thường xảy ra về đêm nhiều hơn, người bệnh đang ngủ phải tỉnh giấc vì khớp rất đau (nhất là khớp ngón chân cái, cổ chân), thậm chí đau dữ dội ngày càng tăng (chạm vào cũng đau). Thông thường một cơn gút cấp tính gây sưng, đau nhất trong vòng 12 - 24 giờ đầu tiên. Bệnh có thể tái phát ít nhất vài ba lần hoặc hơn thế trong một năm. Để chẩn đoán bệnh gút chủ yếu dựa vào tính chất lâm sàng, tiền sử bệnh, xét nghiệm acid uric máu, chụp Xquang khớp đau.

Xử trí bệnh gút cấp như thế nào?

Mục tiêu của điều trị cơn gút cấp tính là để loại bỏ cơn đau và sưng cấp ở các khớp bị ảnh hưởng. Vì vậy, có thể dùng ngay thuốc chống viêm, giảm đau không steroid như indomethacin, mobic, meloxicam, felden... hoặc paracetamol... Nếu không đáp ứng các loại thuốc không steroid sẽ được thay thế bằng colchicine. Mặc dù colchicine không phải là một thuốc giảm đau, nhưng được phân loại như một loại thuốc chống bệnh gút. Colchicine thường được sử dụng với liều lượng nhỏ hơn để điều trị bệnh gút mạn tính nhưng có thể được sử dụng trong một liều cao hơn để đối phó với gút cấp tính (chỉ ngày đầu được dùng hai viên, các ngày sau đó chỉ dùng một viên). Thuốc có tác dụng hiệu quả nhất nếu được sử dụng trong vòng 12 giờ đầu tiên khi các triệu chứng xuất hiện. Tuy nhiên, thuốc có các tác dụng phụ như buồn nôn, đau bụng và tiêu chảy hoặc nếu dùng liều cao sẽ gây ngộ độc, vì vậy việc dùng thuốc và liều dùng phải do thầy thuốc chỉ định. Thuốc có chứa corticosteroid như prednisone, dexamethason, solumedrol có thể được dùng để điều trị cơn gút cấp tính khi bệnh nhân không thể sử dụng thuốc không steroid và colchicine. Corticosteroid giúp giảm đau và viêm khá nhanh. Thuốc có ở dạng uống hoặc tiêm. Ở dạng uống, điều trị corticosteroid được sử dụng với liều lượng giảm dần trong khoảng thời gian từ 7-10 ngày dưới sự giám sát của bác sĩ và chống chỉ định với người viêm loét dạ dày tá tràng.

Cần lưu ý, dù là thuốc nào dùng để điều trị bệnh gút cấp đều phải có chỉ định của bác sĩ, bởi vì, tất cả các thuốc điều trị gút nói chung và bệnh gút cấp nói riêng đều có tác dụng không mong muốn.

Bên cạnh thuốc điều trị, cần thực hiện chế độ ăn, uống kiêng (không uống rượu, bia, không ăn các loại thịt đỏ, nội tạng động vật, hải sản). Người bị gút cần khám bệnh định kỳ để được kiểm tra acid uric máu, nếu chỉ số acid này tăng cao phải được điều trị đề phòng bệnh gút tái phát.

BS. Việt Thanh

Các bệnh đe dọa sức khỏe mùa World Cup

Bệnh về mắt: Các vấn đề như nhức mỏi mắt, giảm thị lực, tăng độ cận thị... là một hệ quả tất yếu khi xem tivi liên tục trong mùa World Cup. Đặc biệt là xem tivi vào ban đêm do đây là thời gian ngủ, mắt làm việc kém hiệu quả hơn nhưng phải hoạt động liên tục để dõi theo các trận bóng. Vì vậy, nên giữ khoảng cách tối thiểu, từ mắt tới màn hình khoảng 2m, thỉnh thoảng cần thay đổi tầm nhìn, nhắm mắt lại trong vài giây để tránh mỏi mắt, hại mắt. Nên massage cho mắt và đặc biệt là ngủ bù sau mỗi đêm thức khuya.

Bệnh xương khớp: Ngồi lâu một chỗ liên tục trong nhiều ngày dễ dẫn đến một hệ quả tất yếu là những vấn đề về xương khớp. Đó là các chứng bệnh như: đau cơ cổ và vai, đau lưng, đau các khớp... Đặc biệt đáng ngại là tình trạng thoái hóa đốt sống cổ. Nó không chỉ gây ra các cơn đau nhức cấp, mà còn ảnh hưởng lớn đến sức khỏe lâu dài. Để phòng bệnh xương khớp, khi xem bóng đá, mọi người nên đi lại, di chuyển trong khoảng 10 phút, nên vận động cơ cổ nhẹ nhàng, nghiêng đầu về các phía để thay đổi tư thế.

Các vấn đề do rối loạn đồng hồ sinh học: Thường xuyên thức khuya để theo dõi các trận bóng, không ngủ đủ thời gian cần thiết, thức vào ban đêm và ngủ bù vào ban ngày... là điều thường xuyên diễn ra trong mùa World Cup. Kết quả là đồng hồ sinh học sẽ bị rối loạn, vì thế gây nên những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe như mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, mất tập trung, hay buồn ngủ, đường huyết tăng cao, sức đề kháng giảm sút và dễ mắc bệnh hơn…

Hồng Hạnh

Lợi ích của tập yoga trong điều trị chứng đau khớp

Tập yoga giảm đau khớp

Tập thể dục đã được chứng minh là giúp giảm đau và cứng khớp liên quan với bệnh viêm xương khớp; Tuy nhiên, các triệu chứng này có thể làm cản trở và khó khăn di chuyển trong tập luyện vào giai đoạn cấp của bệnh.

Yoga cho chúng ta một hình thức tập thể dục nhẹ nhàng giúp cải thiện tầm vận động và tăng cường sức mạnh cơ bắp xung quanh các khớp đau, và tỏ ra hữu hiệu trong giai đoạn cấp của đau khớp.

tap-yoga-dieu-tri-dau-khop-1

Trong một nghiên cứu năm 2014 trên 36 phụ nữ bị viêm xương khớp đầu gối, những người đã trải qua tập yoga cải thiện đáng kể các triệu chứng của họ so với những phụ nữ không tập yoga. Các nhóm tập yoga tham gia một lớp học 60 phút một ngày cho một tuần và sau đó luyện tập ở nhà vào một số ngày còn lại, trung bình 112 phút tập yoga một mình cho mỗi tuần. Sau tám tuần, họ báo cáo giảm 38% tình trạng đau đớn và giảm 35% tình trạng cứng khớp, trong khi nhóm không tập yoga báo cáo các triệu chứng ngày càng xấu đi.

Những người bị viêm khớp dạng thấp, là một bệnh lý tự miễn, cũng có thể được hưởng lợi từ việc tập yoga. Trong một nghiên cứu năm 2015, những phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp báo cáo cải thiện sức khỏe thể chất của họ, khả năng đi bộ, giảm mức độ đau đớn, thêm năng lượng, cải thiện tốt tâm trạng, và đã giảm đáng kể các khớp bị sưng và đau, sau khi tham gia lớp yoga kéo dài 2 giờ cho một tuần trong vòng 8 tuần.

tap-yoga-dieu-tri-dau-khop

Yoga tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật

Yoga có nghĩa là “kết hợp” theo nguồn gốc chữ Phạn, kết hợp ở đây là kết hợp giữa thể xác và tinh thần, giữa con người với vũ trụ; kết hợp ý thức cá nhân với ý thức vũ trụ; kết hợp cái hữu hình với cái vô hình; kết hợp cái hữu hạn với cái vô hạn. Yoga là một phương pháp rèn luyện qua đó con người có thể ngăn ngừa bệnh tật và tăng cường sức khoẻ, đồng thời qua đó có thể phát triển trí tuệ, đạt tới sự hiểu biết bản thân và xã hội một cách đầy đủ và biện chứng.

Để có được một kết quả như mong muốn người bệnh nên tập luyện yoga hàng ngày, đều đặn, với các bài tập phù hợp với khả năng, tránh thực hiện những bài tập nặng gây áp lực cho các khớp xương, tốt nhất ban đầu cần tham gia các lớp tập yoga có giáo viên hướng dẫn, sau đó tự tập luyện ở nhà theo hướng dẫn.

TS.BS. Lê Thanh Hải

(tham khảo Harvard Health Publications)

Dễ mắc bệnh tiêu chảy khi đi du lịch

Mùa hè là thời điểm nhiều người chọn cho mình những chuyến du lịch nghỉ ngơi. Cũng chính vì thế mà tiềm ẩn nhiều nguy cơ mắc bệnh từ thực phẩm nếu không đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó tiêu chảy cấp là bệnh dễ mắc nên cần hết sức đề phòng.

* 2,2 triệu người chết mỗi năm vì tiêu chảy cấp

Oresol pha sai cách không có tác dụng

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết, đa số những người mắc bệnh “tiêu chảy du lịch” thường do họ đi từ những vùng có điều kiện vệ sinh tốt hơn đến vùng có điều kiện vệ sinh kém. Nguyên nhân mắc bệnh chủ yếu được xác định là do thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh, thức ăn đường phố được chế biến sẵn… Do đó, người dân dễ bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy trong đó có E.coli. Bên cạnh đó, chế độ ăn uống thất thường, lịch sinh hoạt bị thay đổi cũng là điều khiến cho hệ tiêu hóa của chúng ta có thể gặp nguy hiểm.

Hiện, trung bình mỗi ngày, khoa Nhi tiếp nhận khoảng 2-3 ca bệnh tiêu chảy. Một số ca tiêu chảy nặng chủ yếu là do người dân không được bù nước, số khác thì được bù nước bằng oresol nhưng pha sai cách không có tác dụng.

PGS.TS Dũng dẫn chứng: “Nhiều người rất hay có thói quen chia nhỏ gói oresol uống thành nhiều lần, nhất là khi pha cho trẻ nhỏ, trong khi đáng lẽ phải hòa tan hết 1 gói oresol trong 200ml nước mới đảm bảo nồng độ các chất, bù nước cho cơ thể bị mất khi tiêu chảy. Vì vậy, người dân cần hết sức chú ý đọc hướng dẫn của nhà sản xuất trước khi sử dụng dung dịch bù nước đường uống, đặc biệt với trẻ nhỏ.

Một sai lầm nữa là cha mẹ thường hay dùng chung một thìa khi cho trẻ ăn hoặc không chịu vệ sinh thìa, dụng cụ đựng đồ ăn của trẻ. Chẳng hạn, vừa dùng thìa cho trẻ uống nước lọc, lại tiếp tục dùng cho trẻ uống oresol và các thức uống khác...

Bệnh dễ chữa nhưng nguy hiểm

Theo Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, tiêu chảy cấp là hội chứng bệnh lý với biểu hiện đi phân lỏng (không thành khuôn) ít nhất 3 lần/ngày và thời gian kéo dài trên 1 ngày. Ngoài ra tùy theo đặc tính gây bệnh của tác nhân và cơ địa của người bệnh có thể kèm theo các triệu chứng khác như sốt, đau bụng, buồn nôn, nôn, mệt mỏi... Diễn biến của bệnh phức tạp, nếu được cấp cứu, điều trị kịp thời sẽ khỏi bệnh, thường không để lại di chứng. Nếu không được phát hiện, điều trị sớm sẽ dẫn đến tình trạng mất nước, rối loạn chuyển hóa, rối loạn tuần hoàn… có thể tử vong (đối với người già, mắc bệnh mạn tính, trẻ em…). Trong cộng đồng, tiêu chảy cấp có thể biểu hiện là những ca bệnh lẻ tẻ, cũng có thể thành vụ dịch bệnh hoặc vụ ngộ độc thực phẩm (≥2 người mắc).

Nguyên nhân của hội chứng tiêu chảy cấp rất phong phú, có thể do tác nhân sinh học (vi khuẩn và độc tố, vi rút đường tiêu hóa, ký sinh trùng, vi nấm), do tác nhân hóa học (các độc tố tự nhiên, hóa chất độc hại…). Ngoài ra còn do các bệnh lý mạn tính, cơ địa (viêm ruột mãn tính, sau sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc tẩy, nhiễm trùng – nhiễm độc toàn thân, do cơ địa không dung nạp lactose, viêm đại tràng mạn tính, ung thư ruột, dị ứng với thức ăn…). Nguyên nhân gây ra tiêu chảy cấp hay gặp nhất là do vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn gây bệnh hay gặp như Salmonella, Streptoccocus, E.coli, Staphylococcus aurerus, Vibrio cholerae, Vibrio parahaemolyticus, Shigella… ; vi rút rota, giun, sán…), hoá chất độc hại (thuốc bảo vệ thực vật, chất hóa học độc hại sinh ra do thực phẩm biến chất…), độc tố tự nhiên (nấm độc, độc tố cá nóc, cóc, độc tố gây tiêu chảy cấp ở hải sản, độc tố nấm mốc…).

Các chuyên gia cho rằng, nguy cơ tiêu chảy cấp trong cộng đồng liên quan rất chặt chẽ và tăng cao trong điều kiện khí hậu, thời tiết nóng ẩm của mùa hè, ô nhiễm môi trường sống, nguồn thực phẩm bị ô nhiễm, nguồn nước ăn uống thiếu và không bảo đảm vệ sinh, điều kiện bảo quản thực phẩm không bảo đảm, vệ sinh chế biến thực phẩm, vệ sinh cá nhân không bảo đảm, thói quen tiêu dùng thực phẩm không bảo đảm vệ sinh (dễ dãi trong lựa chọn thực phẩm không an toàn theo quy định; thói quen ăn sống, ăn tái, ăn gỏi…).

Khuyến cáo phòng bệnh tiêu chảy cấp.

 

Để không bị tiêu chảy hành hạ

Tiêu chảy cấp trong cộng đồng là bệnh có thể phòng, chống có hiệu quả cho cá nhân, cho gia đình và cộng nếu mỗi người dân tự giác, chủ động thực hiện triệt để các biện pháp vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh cá nhân. Do đó, Cục An toàn thực phẩm khuyến cáo người dân:

2,2 triệu người chết mỗi năm vì tiêu chảy cấp

Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính tiêu chảy cấp là nguyên nhân dẫn đến 2,2 triệu người chết hằng năm, chiếm 3,7% nguyên nhân tử vong năm 2004 và xếp thứ 5 trong 10 nguyên nhân tử vong toàn cầu.

Tại Việt Nam, thống kê số mắc và chết do tiêu chảy cấp có xu hướng giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, tại các bệnh viện, số bệnh nhân mắc tiêu chảy cấp vẫn được xếp thứ 4 trong 10 nguyên nhân dẫn đầu của bệnh nhân nhập viện.

- Lựa chọn rau, củ quả, thịt, cá, thực phẩm đã qua chế biến, đồ uống phải có nguồn gốc rõ ràng, và bảo đảm an toàn thực phẩm. Thực phẩm tươi sống phải được sơ chế sạch sẽ trước khi chế biến, nấu ăn.

- Thức ăn nên nấu chín kỹ và ăn ngay sau khi nấu; nếu thức ăn chín đã quá 4 giờ mà không được bảo quản (giữ liên tục nóng trên 60 độ C hoặc lạnh dưới 10 độ C) thì phải nấu kỹ lại trước khi ăn.

- Sử dụng nguồn nước sạch, an toàn để sơ chế, nấu ăn.

- Tránh tiếp xúc giữa thực phẩm sống và thức ăn chín, thức ăn ăn ngay; không dùng chung dụng cụ sơ chế, chế biến thực phẩm sống và thức ăn chín. Đối với thức ăn sau khi chế biến cần che đậy, phòng tránh ruồi, côn trùng và động vật gây ô nhiễm thực phẩm.

- Nguyên liệu thực phẩm cần phải bảo quản, che đậy theo yêu cầu của từng loại: thịt, cá tươi sống bảo quản nhiệt độ lạnh (đông đá); rau củ quả bảo quản nhiệt độ mát; bao bọc kín thực phẩm trước khi bảo quản kể cả trong tủ lạnh; thực phẩm bao gói bảo quản theo yêu cầu của nhà sản xuất.

- Thực hiện ăn chín, uống chín; không ăn tái, ăn sống thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm an toàn như tiết canh, gỏi cá, nước lã…

- Không sử dụng các nguyên liệu thực phẩm nghi ngờ không bảo đảm an toàn, các loại sản phẩm được khuyến cáo có chứa độc tố tự nhiên (nấm độc, cá nóc, cóc, măng lạ, ốc ma…) để chế biến thành thực phẩm.

- Rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh, trước khi chế biến thức ăn và trước khi ăn.

- Xử lý phân, chất thải, rác thải đảm bảo yêu cầu vệ sinh, không dùng phân tươi để tưới rau và nuôi cá.

- Khi có những biểu hiện tiêu chảy cấp nghi do ăn uống cần nhanh chóng đến cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, trợ giúp kịp thời về chuyên môn.

Dương Hải

 

 

Phòng ngừa chứng đau đầu do bệnh lý thần kinh

Nguyên nhân thường gặp là gì?

Đau đầu là triệu chứng do nhiều chứng bệnh khác nhau gây ra. Đau đầu là do sự xáo động trong các cấu trúc nhạy cảm đau trong đầu. Bản thân bộ não không nhạy cảm với đau, vì nó không có thụ thể cảm nhận đau. Một số vùng trên đầu và cổ có các cấu trúc nhạy cảm đau. Các cấu trúc đó được chia làm 2 loại: trong sọ (mạch máu, màng não, các dây thần kinh sọ) và ngoài sọ (màng ngoài xương sọ, cơ, dây thần kinh, động mạch và tĩnh mạch, mô dưới da, mắt, tai, xoang và niêm mạc).

Do nhiều nguyên nhân về môi trường, cuộc sống ảnh hưởng đến tinh thần tạo nên những cơn đau nhức đầu. Đau đầu có khi chỉ thoáng qua nên dễ bị người bệnh bỏ qua, hoặc cũng có thể nó là một trong những triệu chứng của bệnh lý thần kinh và thường đau kéo dài. So với các chứng đau đầu khác, đau đầu do các bệnh lý thần kinh có những dấu hiệu để nhận biết sớm.

Những dạng đau đầu liên quan đến bệnh lý thần kinh

Đau đầu do tăng huyết áp: Chứng đau đầu do tăng huyết áp thường gặp ở người có bệnh lý tăng huyết áp, đi kèm yếu tố hay bị  căng thẳng, stress trong công việc, cuộc sống, thì nguy cơ đau đầu càng cao. Chứng đau đầu này thường đột ngột, dữ dội. Đau đầu khu trú nhiều ở vùng chẩm, trán. Bệnh nhân có cảm giác cứng các cơ gáy, đau lên đỉnh đầu và có thể lan tới vùng trán, thường đau nhiều về ban đêm.

Tinh thần thoải mái là liều thuốc tốt nhất để phòng bệnh đau đầu.

Nguyên nhân đau đầu ở bệnh nhân tăng huyết áp là do áp lực thường xuyên của dòng máu lên trên thành mạch tăng làm cho thành mạch bị giãn dần ra và xuất hiện những tổn thương. Những tổn thương này ngày càng tăng ở các mạch máu nhỏ tại não gây ra hiện tượng đau đầu. Bệnh nếu để muộn dễ gây ra các biến chứng tắc mạch máu não... Người bệnh tăng huyết áp cần cảnh giác với những cơn đau đầu, để phòng biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

Đau đầu do u não: Chứng đau đầu do u não rất đáng sợ. Người bệnh bị u não, do u gây tăng áp lực nội sọ nên đau đầu ở giai đoạn đầu thường âm ỉ, kéo dài. Giai đoạn sau kèm buồn nôn, giảm thị lực hoặc các dấu hiệu của thần kinh khu trú như liệt chi thể, liệt dây thần kinh sọ não, mắt mờ. Lúc này là đau đầu liên tục dữ dội và uống thuốc giảm đau cũng không giảm.

Đau đầu do viêm màng não: Viêm màng não là bệnh do virut, vi khuẩn gây ra. Nếu do virut gây nên thì bệnh có thể khỏi trong vòng vài ngày còn nếu là vi khuẩn gây nên thì sức khỏe bệnh nhân có thể diễn tiến trầm trọng. Đau đầu nghiêm trọng là một triệu chứng của bệnh viêm màng não. Ban đầu cơn đau đầu chỉ ở mức độ vừa nhưng tăng dần cường độ. Sau đó người bệnh thấy đau đầu dữ dội, uống thuốc không giảm, kèm các biểu hiện cổ cứng, ói, sợ ánh sáng, sốt cao.

Đau đầu do dị dạng mạch máu não: Dị dạng mạch máu não là hiện tượng các mạch máu bất thường, rối loạn trong não. Những dị dạng mạch máu này khi vỡ gây chảy máu não. Đây là một căn bệnh bẩm sinh và hết sức nguy hiểm. Dị dạng mạch máu não có thể gây ra xuất huyết não, động kinh, nặng có thể hôn mê và tử vong. Nếu bạn còn trẻ tuổi hay bị đau đầu dữ dội, đã đi khám bệnh và dùng nhiều loại thuốc không có kết quả, có thể bạn mắc phải chứng dị dạng mạch máu não. Trong trường hợp này, bạn cần đi chụp mạch não để xác định chẩn đoán. Đau đầu là một triệu chứng của bệnh lý dị dạng mạch máu não. Cơn đau có diễn tiến âm ỉ, dai dẳng, đôi khi bùng lên cơn đau dữ dội có thể kèm theo liệt run.

Đau đầu do xuất huyết não (đột quỵ): Đây là dạng đau đầu đột ngột, cơn đau dồn dập khủng khiếp và có thể liệt nửa người, hôn mê nhanh. Xuất huyết não là bệnh khởi phát đột ngột và dữ dội. Bệnh nhân có thể bị xuất huyết não ngay trong lúc làm việc, sinh hoạt bình thường, thậm chí ngay cả trong lúc ngủ cũng có thể hứng chịu cơn xuất huyết não.

Người bệnh nên làm gì khi bị đau đầu?

Đau đầu là chứng bệnh hay gặp, đồng thời cũng dễ bị người bệnh bỏ qua và coi đó là bệnh lặt vặt. Tuy nhiên, chứng đau đầu có các biểu hiện khác nhau và người bệnh cần phân biệt được các dấu hiệu đau do bệnh lý. Khi bị đau đầu mà cơn đau đầu ngày càng dữ dội với mức độ tăng dần thì người bệnh cần cảnh giác và nên nghĩ đến chứng đau đầu đi kèm bệnh lý và nên đi khám bác sĩ ngay, làm các thăm dò chức năng cần thiết để xác định bệnh và có liệu pháp điều trị phù hợp. Để việc điều trị bệnh hiệu quả, người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ. Bệnh nhân không tự ý dùng thuốc điều trị đau đầu dạng này, vì với các bệnh lý thần kinh của não bộ, việc dùng thuốc bừa bãi sẽ để lại hậu quả lâu dài, không thể lường hết được. Dùng thuốc bừa bãi khiến bệnh không thuyên giảm mà còn diễn tiến nặng hơn, rất nguy hiểm.

Lời khuyên của thầy thuốc

Bên cạnh việc dùng thuốc, để phòng chứng đau đầu (vì bất kỳ nguyên nhân gì), người bệnh cần lưu ý các liệu pháp như: cần sự thay đổi lối sống, cách làm việc hiệu quả, tinh thần thoải mái là liều thuốc tốt nhất để phòng bệnh. Việc thay đổi lối sống cần áp dụng đầu tiên là ăn chế độ ăn lành mạnh và giữ cân nặng hợp lý, trong tầm kiểm soát. Người bệnh cũng cần phải điều chỉnh khẩu phần ăn, tránh ăn những thức ăn có thể gây khởi phát cơn đau nửa đầu (tôm, cua, cá, sò, ốc, chocolate, ca cao, pho mát, bơ hoặc uống một số thức uống có cồn). Những người có hút thuốc, uống rượu, béo phì... thường có khuynh hướng dễ bị đau đầu hơn. Nếu trong cuộc sống không thể tránh khỏi stress, bạn hãy học cách khắc phục và hóa giải stress tốt hơn. Nên giảm áp lực công việc, tránh những căng thẳng, cố gắng giữ cho mình có một tinh thần lạc quan yêu đời. Chuyên cần tập luyện thể dục thể thao, đi bộ, yoga, dưỡng sinh, khí công... Hãy học cách thư giãn, thể dục nhẹ trước khi đi ngủ để có giấc ngủ tốt hơn, cố gắng ngủ đúng giờ, tránh ngủ ngày quá nhiều để có được giấc ngủ ngon và phòng ngừa đau đầu hiệu quả.

BS. Hùng Thuận

5 sai lầm thường gặp khi nuôi con

Hiện nay, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 14,1%, suy dinh dưỡng thấp còi là 24,6%. Suy dinh dưỡng do nhiều nguyên ...